Samstag, 17. Oktober 2026

ÂM VANG CỦA MỘT TIẾNG RAO

 

Ông NGUYỄN QUANG TUYẾN

(1953 - 1975)


Vào tuần cuối cùng của tháng 7.1975, từ Sài Gòn tôi có chuyến về thăm thành phố biển Nha Trang đầy bất ngờ. Tuy còn xa lạ nhưng cũng tìm được nhà bác tôi trên đường Hồng Bàng. Không chờ lâu, người mở cửa là bác Lệ, mẹ của anh Tuyến, là anh em chú bác ruột đã năm năm trôi qua nhưng chưa một lần gặp lại.

Hai bác cháu đều rất mừng và xúc động lần gặp lại nơi quê xa, tôi chưa kịp hỏi thăm sức khỏe thì bác đã chậm rãi như tâm sự:

-Bác cũng mong gặp con vì nhớ có lần con lên Pleiku thì đã cách đây khá lâu rồi. Nay con ghé thăm bác được là quý lắm, chắc con cũng biết là anh con giờ không còn nữa… 

-Dạ, con biết. Con cũng vừa về thăm nhà. Ba mạ con nhiều lần nhắc đến nỗi buồn đau của bác lúc này, nên mong bác giữ gìn sức khỏe, chuyện gì cũng sẽ qua. Ba mạ con đang sắp xếp công việc rồi sẽ vào thăm bác một chuyến.

Sáng hôm sau bác chuẩn bị hoa trái hương đèn rồi hai bác cháu đi thăm phần mộ anh tôi, cũng là người con trai duy nhất của bác đã qua đời chỉ cách đây không lâu, khi hai mẹ con gần như kiệt sức trên đường di tản cùng dòng người dân và lính từ các tỉnh Cao Nguyên xuôi về miền đồng bằng Qui Nhơn, Nha Trang và các tỉnh phía nam vào lúc chiến sự đến hồi khốc liệt vào tháng 3.1975. May quá bác đã qua khỏi, còn anh tôi bị thương hàn, thiếu thuốc men nên đã qua đời chỉ mười hôm sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4.1975, lúc mới 22 tuổi đời.

Tôi ở lại một đêm nữa rồi sáng sớm hôm sau mang theo nỗi lòng biết tỏ cùng ai trên chuyến xe chật chội trở về Sài Gòn. Với bác tôi thì giờ đây chẳng có nơi nào để quyến luyến khi định mệnh đã lặp lại như hai mươi hai năm về trước, lúc anh tôi là đứa bé bất hạnh ngay từ lúc mới lọt lòng mẹ được 3 tháng tuổi thì người cha qua đời. Bác trai tôi sinh năm 1921, theo Việt Minh, bị Tây bắn vào năm 1953 ở Diên Khánh, Quảng Trị lúc 32 tuổi. Vợ bác là người phụ nữ trẻ, nết na hiền thục được gia đình chồng ai cũng thương mến bảo bọc, bác chấp nhận số phận không may để thờ chồng nuôi con cho đến ngày khôn lớn. Nhưng giờ đây một lần nữa, đứa con là cuộc sống của đời bác cũng mất, có đau đớn nào hơn khi trái tim của người mẹ vỡ tan trước phận đời hẩm hiu, cô quạnh. 

Tôi cũng vậy, đã mất một người anh thân thiết mà thuở xưa ở quê nội lớn lên cùng trang lứa trải qua thời thơ ấu đẹp như bức tranh đồng quê thanh bình khi lửa đạn chưa lan tới. Đến mùa hè 1965 hai anh em bị chia cắt, khi tôi cùng với các em được mẹ hướng dẫn rời nhà lúc hai giờ sáng, vượt làng trong đêm đến Phò Trạch an toàn vào sáng sớm trước khi vào Huế. Năm ấy tôi 13 tuổi. Còn anh tôi ở lại làng, phụ giúp mẹ mỗi ngày ra chợ tảo tần buôn bán nuôi con. 

Rồi hai năm sau, khi tôi đang quen dần nếp sống thị thành và có bạn bè mới, thì dường như cũng bắt đầu xa dần anh em và xóm làng quê cũ không liên lạc được vì chiến tranh, thì đột nhiên anh xuất hiện. Đó là những ngày vào mùa hè 1967 khi bác dâu dẫn anh vô Huế ở một thời gian, rồi bác một mình trở về làng chuẩn bị thu dọn nhà cửa chờ ngày ra đi như bao nhiêu gia đình khác trong thôn xóm, một khi điều kiện cho phép. Năm đó ba tôi đang làm thợ hình ở Pleiku nên bác vào thăm không gặp. Chính trong mùa hè này mà chúng tôi đã có một kỷ niệm không thể nào quên được cho tới bây giờ.

Mấy ngày đầu anh em trong nhà dẫn nhau vào thăm Đại Nội hay ra phố chỉ một hai lần rồi anh không muốn đi nữa, anh nói: 

-Ở ngoài quê tau giúp việc nhà việc chợ với mạ và ngủ sớm quen rồi, chừ vô trong ni cả ngày chẳng làm chi thấy phí thời gian quá. Mi tìm coi có việc chi làm cho vui mấy ngày hè?

-Nói răng mà đúng lúc rứa, mạ tui đang tìm thợ làm nhà, anh sức mấy mà làm nổi!

-Được mà, để tau phụ với, mi nói với thím như rứa. Rồi anh kéo tôi sát tai: 

-Có chuyện ni hay lắm, nhưng mi khoang kể cho ai biết hết…rồi anh nói to nói nhỏ cho tôi vừa đủ nghe “chuyện bí mật” của anh làm tôi nửa tin nửa ngờ vì chưa bao giờ nghĩ tới! 

Tôi không thể dấu câu chuyện của ông anh nên kể cho mạ nghe không thiếu một chữ. Thấy mạ tủm tỉm cười rồi hỏi tôi:

-Con thích không?

-Dạ, con muốn đi với anh cho vui nhưng sợ mạ không cho.

-Được rồi, để mạ coi.

-Dạ.

Ngày hôm sau thấy mạ nói chi đó với anh Tuyến rồi gọi tôi tới: 

-Mạ nói với anh con rồi, muốn thì thử cho biết.

-Dạ mạ. 

Chiều hôm sau thấy mạ tôi đo đạc may túi vải, còn ông anh thì mang xe đạp ra bơm và coi lại cặp phanh xe rồi chạy thử. Trong lúc đó thì các em tôi vẫn vô tư vui chơi bình thường trong những ngày hè, không một chút mảy may nghi ngờ nhà sắp “có biến” do ông anh xếp đặt sẽ diễn ra trong nay mai.

Đến ngày thứ tư chừng 19 giờ gặp đêm trăng sáng, hai anh em tôi đã có mặt ở lò bánh mì trên đường Thái Phiên. Theo thỏa thuận trước thì tôi rành đường trong khu vực nên đạp xe. Tiền vốn mạ đưa cho anh giữ để mua bánh mì và một ít tiền lẻ để thối lại. Và cái quan trọng nhất mà đối với tôi có vẻ hơi khó thì ông anh nhà quê cũng nhận luôn: tiếng rao! Bởi vậy mấy ngày trước khi xuất hành anh đã tập rao nho nhỏ ở nhà như thế này: “Bánh mì nóng giòn đây! Bánh mì nóng nè bà con ơi! Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!” làm tôi được một trận cười thoải mái. Nói tóm lại tôi chỉ có một việc duy nhất là chở anh ngồi sau xe, mang một túi bánh mì mà tuần đầu tiên chỉ mua 20 đến 25 ổ mỗi tối (ổ bánh mì dài hơn một gang tay), bán thử trong 5 ngày đầu tiên rồi tính sau. Đó là lệnh của mạ.

Chỉ mất mấy phút là xong việc mua bánh đựng vừa vặn 25 ổ trong túi vải hai lớp có sức giữ ấm. Giá mua giá bán hai anh em đã đồng ý khi cùng đi thăm dò ở tiệm từ mấy hôm trước. Khi đã xong phần chuẩn bị thì mới nhớ là không ai có đồng hồ nên phải hỏi người đi đường: 8 giờ kém 10 phút tối. Tôi đạp xe theo những đường quen thuộc mà không cần hỏi anh nhưng nhớ lời mạ dặn: “đừng đạp xe nhanh mau mệt, không đi quá xa và chạy ở những khu vực có đèn đường thì tốt hơn”.


Hình minh hoạ do AI tạo

(Chụp lại trên Báo Viên Giác Hannover, số 275, tháng 10.2026)


Rồi bắt đầu, sau lưng tôi một tiếng rao bỗng vang lên lanh lảnh, trong như tiếng gà gáy sáng: “Bánh mì nóng giòn đây!” Nghỉ một chút, “chú gà” lại cất tiếng: “Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!” Thật không ngờ ông anh tôi rao nghe ra trò đến thế, không những thuộc bài mà còn rất tự nhiên. Từ ngã tư Thái Phiên – Cường Để đến gần cổng trường Phan Sào Nam bán mở hàng được 6 ổ cho ba người. Hai anh em lên tinh thần, tôi vẫn đạp thong thả trên những con đường đèn sáng trong khu vực cho đến khoảng 9 giờ tối đã bán được 22 ổ. Làm một bài tính nhẩm: vốn mỗi ổ 3 đồng, bán 5 đồng, 22 ổ lời được 44 đồng. Cho nên 3 ổ còn lại không bán nữa, nhớ đến mạ cũng thích bánh mì nóng khi mới vào sống ở Huế mấy năm trước nên liền đạp xe về nhà may ra mạ và các em còn thức, đến nhà chỉ vài phút sau đó. Lúc này thì bí mật đã được bật mí nên mạ đã cùng các con chia nhau ba ổ bánh mì thật vui, mà ồn ào nhất là khi công bố tiền lời thì ai cũng phải kinh ngạc!

Vì mạ cho bán một tuần chỉ 5 ngày thôi nên đến tối chủ nhật là xong tuần đầu tiên. Những ngày sau mạ và các em không đi ngủ sớm nữa mà chịu khó chờ vì có lúc hai anh về trễ. Nhưng dù sớm hay muộn, tối nào cũng dành vài ổ bánh mang về nhà mở tiệc mừng “bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây” với mạ và các em thật vui trước khi đi ngủ.

Thời gian hai anh em bán bánh mì được chừng một tháng rưỡi thì anh tôi được tin sẽ có chuyến đi với mẹ lên Pleiku vào tháng 8, trong thời gian đầu sẽ sống tạm với gia đình cô tôi đã đến lập nghiệp ở miền Cao Nguyên đất đỏ vào năm trước. Mạ tôi chuẩn bị cho anh một số áo quần, sách vở, đồ dùng và một ít tiền để tiêu xài trong chuyến đi  xa. 

Ba năm sau, đến mùa hè 1970 khi học xong bậc trung học, tôi đã có một chuyến đi Sài Gòn để tìm hiểu về các khoa ngành và trường lớp trước ngưỡng cửa đại học. Trước khi trở lại Huế sau một tuần ở Sài Gòn, tôi bay lên Pleiku thăm hai gia đình Cô và Bác. Về thứ bậc thì ba tôi là thứ 7 trong gia đình có 10 người con (bà chánh mẫu 8, bà thứ mẫu 2), 3 trai và 7 gái. Cô ở Pleiku là người chị thứ 2, góa phụ, có ba người con trai đều đã lập gia đình, tất cả ở Pleiku. Bác Lệ là chị dâu, vợ của người anh thứ 6, góa phụ, là mẹ của anh Tuyến, tên đầy đủ là Nguyễn Quang Tuyến, nhỏ hơn tôi một tuổi, hay còn gọi là “anh trai bánh mì” mà tôi đến thăm trong lần này. 

Tôi lấy chuyến bay sớm nên khoảng 12 giờ trưa đã đến miền núi cao nguyên Pleiku. Trời khá đẹp vào ngày hè rực nắng trên những đồi thông thoai thoải cho đến những con đường vào thành phố. Sự có mặt của tôi là một bất ngờ từ cô cho đến bác Lệ và gia đình các anh chị trong nhà. Tôi được tiếp đón nồng hậu trong niềm quý mến và ai cũng nhớ đến ba tôi đã có một thời gian lên Pleiku làm ở tiệm hình vào năm 1967. Tuy vậy, tôi ở nhà cô chỉ một đêm vì ngày hôm sau anh Tuyến đến đón về nhà:

-Mi mang theo đồ dùng rồi về tau ngủ luôn, mai đi Kontum chơi.

Anh chạy qua một vài con đường không xa lắm rồi dừng trước căn nhà kín cổng cao tường, mở cánh cửa bên hông phải rồi đi tiếp vào phía sau sân thoáng rộng và có chỗ cho xe hơi. Biết tôi đang suy nghĩ gì đó nên anh giới thiệu:

-Tau ở đây đã hai năm rồi, nhờ quen biết với cô mình nên hai ông bà chủ đã giúp nuôi ăn ở trong nhà để tiện học nghề thợ bạc. 

Tôi thật ngạc nhiên nhưng ủng hộ:

-Ừ, nhà mình chưa có ai học nghề này cả, nếu anh đã chọn thì phải cố gắng học thành tài.

-Thời gian đầu lên đây cũng lắm gian nan, thấy việc học chắc không đi đến đâu nên cô và các anh khuyên tìm một nghề để nuôi thân và sớm giúp mẹ là thực tế hơn cả.

Hai anh em đang xách đồ vào nhà thì bất ngờ thấy một cô bé trong nhà đi tới, tuổi chừng 15, 16 chào tôi rồi đi lên lầu, anh tôi nhìn theo:

-Tiểu Lan, con gái ông bà chủ.

Chiều hôm đó hai anh em ra phố, đi loanh quanh rồi dừng ở quán cà phê bên con đường dốc nhìn xuống thung lũng, nơi vừa có không gian ngồi ngắm chiều về phía bên kia đồi, vừa tìm lại ký ức vẫn còn nồng ấm trên chiếc xe đạp với bao bánh mì nóng qua những con đường vắng vẻ nhưng đầy trăng sao trong nội thành Huế. Thấy anh rất hào hứng khơi lại chuyện cũ nên ngồi lâu. Đêm đó hai anh em về khuya nhưng dậy sớm đế chuẩn bị cho cuộc đi chơi. 

Rồi chỉ trong tích tắc bất ngờ, thật sự là không vui nhưng đã may mắn tránh được những điều rủi ro nhất trong tai nạn giao thông trên tuyến đường Pleiku-Kontum khi một chiếc xe Jeep của lính không quân đụng xe Honda do anh tôi cầm lái. Trong thời gian nằm viện, hai “bệnh nhân” được gia đình và một ít bạn bè anh tôi đến thăm, trong số bạn trẻ có hai cô bé mà tôi nhận ra được một khuôn mặt quen quen là Tiểu Lan, con gái ông bà chủ mà tôi đã gặp hai hôm trước ở nhà.

Tiểu Lan tay cầm hộp bánh, một tay kéo bạn đi theo cuối phòng nơi hai anh em tôi đang ngồi chuyện trò. Dù giây phút ban đầu có chút e lệ chừng mực, nhưng cô bé trông rất dễ thương với đôi mắt đen nhánh cùng mái tóc tự nhiên đã nói lên được nét thơ ngây và hiền lành. Tiểu Lan cũng có nhắc đến Huế với ước mong sẽ có dịp về thăm thành phố nổi tiếng này một lần đã làm tôi xúc động. Trước khi chuẩn bị ra về, Tiểu Lan và bạn không quên chúc hai anh mau khỏe để sớm về nhà. 

Tôi cảm ơn Tiểu Lan món quà và cùng ra ngoài tiễn chân hai cô bé. Hôm nay thấy anh tôi vui khi có người đến thăm, vết thương ở chân còn băng bó chưa lành nên anh phải giới hạn đi lại. Còn tôi thì gần như dần bình phục nhưng vẫn còn ê ẩm có lẽ do bị văng quá mạnh sang bên kia đường rồi chẳng biết sống chết gì nữa sau đó. Tất cả đều may mắn, nếu không muốn nói là hy hữu trong tai nạn xe cộ.

Chúng tôi xuất viện sau năm ngày được điều trị thật chu đáo của quý y bác sĩ ở bệnh viện Pleiku, cũng là lúc tôi chỉ còn ba hôm nữa là sẽ trở về Huế. Tuy chỉ ba ngày nhưng tình cảm anh em gần gũi hơn và thương nhau nhiều hơn khi biết rằng đời sống vẫn luôn đổi thay, nên chuyện có điều kiện để hẹn một ngày hội ngộ là không hề dễ dàng.

Khoảng 10 giờ sáng ngày cuối trước sân nhà hai anh em chuẩn bị ra phi trường. Có  một điều rất tiếc làm tôi nhớ mãi, là khi lên xe rồi vô tình quay lại phía sân nhà, thấy Tiểu Lan đôi mắt đỏ hoe bên cánh cửa trước thang lầu, tay cầm chiếc hộp nhỏ vừa rơi xuống đất thì chiếc xe anh tôi đã phóng ra đường. Sau này Tiểu Lan kể lại câu chuyện này giống như những gì mà tôi đã thấy và thật bất ngờ trong lá thư đầu tiên cùng chiếc cà vạt màu xanh nhung mà tôi nhận được ở Huế vào tháng 8.1970 do Tiểu Lan gởi tặng qua bưu điện.

Có lẽ ở cái tuổi mười sáu, mười tám ấy, chúng tôi đều đã cảm nhận được một điều gì đó rất gần gũi mà chẳng ai nói thành lời. Tiểu Lan còn là một cô bé, còn tôi vừa rời ghế trung học, trước mặt là ngưỡng cửa đại học với bao dự tính cho tương lai. Không một lời hẹn, cũng chẳng một lời từ biệt. Hai người trẻ chỉ lặng lẽ bước qua nhau, mang theo một chút bâng khuâng của tuổi đầu đời.

Đâu có ai ngờ rằng những giây phút tiễn đưa này cũng là lần cuối cùng gặp gỡ. Rồi sau đó mỗi người một ngả.

***

 Sau năm năm im hơi lặng tiếng, anh Tuyến của tôi đã ra đi vào tháng 5 nhưng đến tháng 7.1975 tôi mới đến được Nha Trang, thắp một nén hương trước phần mộ của anh, cùng thấm nỗi xót xa của một người mẹ mất con là vô cùng tận. 

  Khi tôi ra nước ngoài được ba năm, năm 1990 mạ tôi từ Huế vào Nha Trang đưa tro cốt anh Tuyến về quê nhà Chính An, để anh được nằm lại bên cha và ông bà, nơi chôn nhau cắt rốn.

Hai năm sau, bác Lệ cũng trở về nguyên quán ở làng Trung Thạnh, chỉ cách quê chồng một tiếng gọi. Những năm cuối đời, bác sống trong sự chăm sóc của các cháu, giữa xóm làng ngày một thưa vắng. Rồi tháng 12 năm 2013, bác cũng đã ra đi.

Vậy là một người mẹ đã tiễn chồng, rồi tiễn đứa con duy nhất của mình, cuối cùng cũng trở về với quê nhà. Những người của một thời ly tán, sau bao nhiêu năm lận đận, rồi cũng lần lượt tìm về nằm lại bên nhau. Sưởi ấm nhau trên mảnh đất quê hương.

Chỉ còn người ở lại, đôi khi nhớ một đêm trăng ở Huế, nhớ chiếc xe đạp hai anh em đi qua những con đường vắng, và bên tai như còn nghe văng vẵng đâu đó giọng rao của một chàng trai mới mười mấy tuổi: “Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!”

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua. Bao người thân quen đã lần lượt về với lòng đất mẹ.

Mà sao tiếng rao của những đêm trăng năm ấy, vẫn cứ còn vương vấn mãi đâu đây...

NGUYỄN SĨ LONG


Freitag, 2. Oktober 2026

QUÁN BÊN ĐƯỜNG

Thị Trấn Cai Lậy (Ảnh Internet)

                                  tặng M.

 

Bên đường nắng gắt quán quay ra

Bụi mờ theo gót chuyến xe qua

Buồn trông theo dáng chiều Cai Lậy

Lòng nhớ xa xăm lẫn nhớ nhà

 

Em có về thăm buổi trưa nay

Anh đứng chờ em suốt cả ngày 

Thương ai đâu chỉ là nhung nhớ 

Như mấy hôm rồi ở Miền Tây 

 

Lỡ chuyến xe qua vẫn đợi người

Như buổi trăng về giữa chiều rơi

Thăm hỏi cùng ai tình sông nước

Đâu bóng con thuyền ra biển khơi?

 

Anh biết em buồn em mến thương 

Anh biết em yêu những con đường 

Mà anh đã bước lên trên ấy 

Như dẫn em vào cõi yêu đương

 

Hôm nay anh lại ở phương xa

Nhớ em đêm xuống đón sương sa

Nửa khuya tay dậy tìm manh áo 

Môi gởi cho nhau những mặn mà. 

 

NGUYỄN SĨ LONG

Cai Lậy, 15.04.1977

 

Dienstag, 1. September 2026

MỘT TƯỢNG ĐÀI GIỮA VIENNA

             

 Cụ Ông HUỲNH BỬU PHAN


  Vào tối thứ sáu ngày 17.07.2026 lúc 21:36 giờ, tôi nhận được tin nhắn của con gái: “Bác Phan vừa mới mất hôm nay. Tụi con được gia đình báo”. Đây là một tin thật bất ngờ, bởi vì chỉ mười ngày trước đây, vợ chồng chúng tôi đã đến thăm bác Huỳnh Bửu Phan ở quận 10, chừng bốn ngày sau khi bác được xuất viện về nhà. Hôm đó ngoài  Hồng Nhung là con gái áp Út luôn có mặt bên cạnh người bệnh, còn có Lai Dana và cháu trai. Chiếc giường của bác Phan cũng được đưa ra phòng khách để tiện việc chăm sóc ngày đêm. Hồng Nhung cho biết là bác không ăn được gì ngoài một ít nước hạn chế, rồi đến gần giường nói nhỏ vừa đủ nghe: -Ba ơi, có khách đến thăm. 

  Khoảng chừng vài giây thấy Bác trở mình nhè nhẹ. Chúng tôi chào Bác, Bác nằm yên nhưng đôi mắt có chút cử động. Lúc này cảm nhận đầu tiên của tôi là Bác như một người bệnh bình thường, còn sức sống và không có dấu hiệu đau đớn về thể xác, cũng không biểu lộ sự mệt mỏi và đặc biệt trí nhớ vẫn còn tốt khi nghe câu hỏi: -Bác nhớ con không? Bác trả lời ngắn gọn và rõ ràng: -Chú Long. 

  Được thăm Bác trong cơn bệnh, được thấy Bác vẫn bình thản, an nhiên, được nghe Bác vẫn còn nhớ tên tất cả con cháu, thì bất cứ ai cũng có hy vọng Bác sẽ khỏe lại như những lần nằm viện mà chúng tôi đã có đôi lần viếng thăm Bác cùng với Lê Tuấn và Huệ Nhật một vài năm trước. 

  Nhưng, đâu có ai ngờ! Lần này Sư Bác đi thật. Từ khi được tin Bác xuất viện cho đến lần viếng thăm gần nhất, rồi sau đó không lâu tờ Cáo Phó được gởi đi, tựa như một lời yêu cầu khẩn thiết trước đó của người bệnh đã được chấp thuận: 

  -“Ba muốn chết vì thấy con gái khổ quá!” 



  Buổi sáng thứ sáu cuối tuần nắng đã lên nhưng trời còn mát khi tôi rời nhà ở quận 23 lúc 8:20 giờ để đến quận 11 tham dự lễ Di Quan Hỏa Táng ở Feuerhalle Simmering. Bên trong là một khoảng sân rộng nhưng vắng lặng. Trước Feuerhalle chỉ thấy một hai người đứng chuyện trò như đang đợi chờ ai, nhưng khi vào bên trong thì những hàng ghế hai bên chỉ còn một vài chỗ trống. Tôi đi chậm về phía bên trái, đến gần những hàng ghế trước, vừa tầm nhìn về hướng quan tài, gần đó là bàn thờ, linh vị, di ảnh, đèn, nến, hương, hoa và bàn Phật. Tất cả đã được chuẩn bị trước đầy đủ. Nghi thức này được gọi là Nghi thiết linh sàng. 

  Kế đến là Hòa Thượng Thích Trí Minh và Thượng Tọa Thích Viên Duy ngồi ở hàng đầu, bên trái hội trường. Bên phải ba hàng ghế trước dành cho gia đình tang quyến với đồng phục trắng đen khoảng chừng bốn mươi người, cùng nhiều Phật tử và đồng hương đứng rất trang nghiêm ở hai bên và phía sau khá đông. Ngoài ra, có một người bạn không hẹn trước nhưng tôi gặp lại anh. Đó là Vũ Văn Hùng, anh thường có mặt cùng chiếc máy quay phim trong mỗi năm có Đêm Văn Nghệ Xuân được Hội Văn hóa Xã hội Phật tử Việt Nam tổ chức ở quận 23, Liesing và hôm nay anh cũng đang làm công việc đó một cách chăm chú và chuyên nghiệp. Về số người tham dự, Kim Dung và tôi cùng đưa ra một con số khoảng 150 người, đông nhất trong ba lần tôi đã đến địa chỉ này trong sáu năm qua.

  Đúng 9 giờ, Đạo hữu Nguyễn Đinh Kim Dung thay mặt Gia đình Tang lễ mở đầu với bài phát biểu. Xin trích: 

  Nguyễn Đinh Kim Dung

  -“Hôm nay tôi xin được thay mặt gia đình Cụ Ông Huỳnh Bửu Phan thành kính tri ân Hòa Thượng Thích Trí Minh, Thầy Viên Duy cùng chủ trì lễ cầu siêu và tiễn đưa Ông trong chặng đường cuối cùng của cuộc đời. Gia đình chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể quý bà con cô bác anh chị em và bạn bè gần xa đã không ngại đường xa dành thời gian quý báu đến thắp một nén hương, chia sẻ nỗi mất mát và tiễn đưa Ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Sự hiện diện của quý vị hôm nay là niềm an ủi vô cùng lớn lao đối với gia đình chúng tôi trong giờ phút chia ly này.

  Kính thưa quý vị, Cụ Ông Huỳnh Bửu Phan đã hưởng thọ 105 tuổi, 105 năm là cả một hành trình dài và ý nghĩa. Điều Ông để lại không phải là của cải vật chất mà về lòng nhân hậu, đức hy sinh và phục vụ đời sống trọn nghĩa trọn tình. Khi còn trẻ Ông là người siêng năng, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Sau khi lập gia đình đã cùng bà Út, hai Cụ xây dựng mái ấm bảy người con nên người. Đối với gia đình Ông là người chồng thủy chung, người cha mẫu mực, cả cuộc đời ông lặng lẽ hy sinh, lao vào đời sống cho vợ con. Có lẽ thế hệ của Ông ít nói lời yêu thương nhưng tình yêu ấy được thể hiện bằng cả một đời tận tuỵ và bao bọc. Khoảng hai mươi năm trước, Ông xuống tóc tu học tại gia, từ đó đến cuối đời ông vẫn giữ cuộc sống thanh tịnh, ăn chay trường, niệm Phật, lấy việc thiện làm niềm vui. Điều khiến mọi người kính trọng nhất là tấm lòng từ bi của ông. Dù tuổi đã cao ông vẫn luôn gửi tiền về Việt Nam giúp trẻ mồ côi, người nghèo và góp phần xây dựng Nhà Thuốc Nam ở Châu Đốc, Việt Nam để chữa bệnh miễn phí cho những người khó khăn. Điều đáng quý hơn là Ông chưa bao giờ nhận công lao về mình. Ông luôn khiêm tốn nói đây là công đức của bà con người Việt Nam tại Áo, một câu nói rất giản dị nhưng chứa đựng một tấm lòng khiêm nhường và bao dung. Có lẽ đó cũng chính là điều lớn lao nhất mà Ông để lại cho con cháu và tất cả chúng ta ngày hôm nay. Người ta thường nói, đời người không được đo bằng số năm mình sống, mà được đo bằng những điều tốt đẹp mình để lại cho người khác. Hôm nay nhìn lại cuộc đời 105 năm của Cụ Ông Huỳnh Bửu Phan, chúng ta có thể mỉm cười để vĩnh biệt. Đời Ông đã sống thật trọn vẹn và thật ý nghĩa theo quy luật của cuộc đời, ai rồi cũng sẽ đến ngày phải chia tay cõi tạm này. Nhưng một con người sống hơn một thế kỷ, trọn nghĩa với gia đình, trọn tình với mọi người và trọn lòng với Đạo Pháp như Cụ Ông Huỳnh Bửu Phan sẽ sống mãi trong ký ức của những người ở lại.”

  Tiếp theo Đh. Kim Dung trao microphone cho cháu nội Huỳnh Bửu Phúc Hậu phát biểu. Xin trích:

  Huỳnh Bửu Phúc Hậu

  -“Có nhiều người quen biết Ông, họ đều mỉm cười chào hỏi và vui mừng mỗi khi gặp nhau. Với tính cách vui vẻ và ấm áp, ông luôn gắn kết mọi người với mình, mang đến nụ cười và lan tỏa niềm vui đối với bất kỳ ai đó từng gặp qua. Ông lúc nào cũng năng động mỗi khi phải dùng xe đẩy, như tự mình ra siêu thị để mua một quả dưa hấu. Ngay cả khi ở nhà ông vẫn luôn tự lập và chăm chỉ. Ông là đầu bếp trong căn bếp của mình.

  Chỉ mới vài tiếng trước đây, Ông đã vào bếp nấu món canh mà ông từng yêu thích. Cuộc sống tự lập là điều vô cùng quan trọng đối với ông, chừng nào còn có thể, ông luôn muốn tự mình làm tất cả mọi việc, mà chính điều đó làm nên con người của Ông. Ông luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ đến bản thân mình và luôn dang rộng vòng tay đón nhận và yêu thương mọi người. Chúng con sẽ không bao giờ quên sự khiêm nhường, đức tính cần cù và tận tâm giúp đỡ người khác, với tấm lòng nhân hậu. 

  Cho đến những giây phút cuối cùng, Ông vẫn còn nhớ chúng con là ai và vẫn gọi tên đúng từng người, không quên một ai cả. Đó là những gì chúng con sẽ khắc ghi mãi trong lòng”.

NAM MÔ A Di ĐÀ PHẬT




  Sau đó cháu ngoại Lai Dana phát biểu bằng tiếng Đức khoảng ba phút trước khi lễ Di Quan Hỏa Táng, được sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Trí Minh và Thượng Tọa Thích Viên Duy bắt đầu.

                                     

  Hòa Thượng Thích Trí Minh

  Một tiếng chuông ngân, tất cả thành viên trong gia đình đứng dậy, chấp tay cung kính. Nghi thức lễ Di quan nhằm đưa linh cữu người đã khuất từ nơi tổ chức tang lễ đến nơi an táng hoặc hỏa táng, được thực hiện sau các lễ Cầu siêu hoặc kết hợp Cầu nguyện cho hương linh thanh tịnh. Đây là một nghi thức không thể thiếu, không chỉ mang tính lễ nghi, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Nghi lễ này thường có sự tham gia của gia đình, còn có người thân, hàng xóm và bạn bè.


  Ở Âu Châu, lễ Di quan Hỏa táng tuy được tinh giản cho phù hợp với địa phương nơi mình cư ngụ, nhưng vẫn giữ cốt lõi tâm linh, giữ không gian yên tịnh. Chư Tăng, Phật tử niệm Phật, tụng kinh cầu siêu, cử hành lễ tiễn biệt trang nghiêm. Thân quyến thành kính dâng hương, mặc niệm và cần nén cảm xúc tránh gây nhiễu loạn tâm thức người mất, trước khi quan tài được đưa vào lò hỏa táng theo đúng quy định của Trung tâm Hỏa táng Âu Châu.



  Do có hai nghi thức đã được thực hiện trước là: Trị quan nhập liệm và Nghi thiết linh sàng (lập bàn thờ linh vị) nên lễ nghi thành phục, là nghi thức gia đình tang quyến nhận tang phục đã diễn ra như đã chuẩn bị trước, mỗi người chỉ nhận một chiếc khăn tang, lạy tạ trước linh sàng đánh dấu khoảng thời gian chính thức chịu tang người thân, để tỏ lòng hiếu đạo và thương tiếc khôn nguôi.




  Ở Việt Nam, một lễ cúng vào buổi tối trước ngày đưa đám gọi là Tịch Điện. Lúc  gần cuối lễ, gia đình tang quyến đi theo sau vị Thầy chủ lễ 7 vòng (cho nam) hoặc 9 vòng (cho nữ) quanh quan tài để thể hiện lòng tưởng nhớ, tiếc thương người đã khuất, đồng thời nhắc nhở con cháu phải nhớ đến công ơn của người quá vãng.



  Khoảng 10:10 giờ, Thượng tọa Thích Viên Duy phát biểu đôi lời ngắn gọn. Sau đó trong đạo từ của Hòa Thượng Thích Trí Minh, Thầy có nhắc đến những năm sinh hoạt Phật sự của Hội VHXH Phật tử Việt Nam tại Áo, cũng như hành trình tu tập của Sa di Vạn Bảo. Hòa Thượng đã dành cho Sa di Vạn Bảo những lời ngợi khen có cánh và thân tình. Xin trích:


  “Kính bạch chư Tôn Đức.

  Kính thưa toàn thể quý vị, Sa di Vạn Bảo là một vị đã tiếp tục sứ mệnh làm việc Phật sự ở Áo quốc, chúng tôi được có cơ duyên đến để giúp đỡ tu học. Sa di Vạn Bảo thật sự là một người già nhưng tinh thần với Giáo hội và Phật giáo rất là tha thiết. Sau khi tôi đến làm việc thì Sa di Vạn Bảo lại rất tích cực lo việc Phật sự mặc dù tuổi đã lớn, năm đó cũng đã bảy mươi mấy, tám mươi. Đến Đại lễ Phật đản 17.05.2003 (Quý Mùi) 82 tuổi, chú Vạn Bảo đã phát tâm xin làm đệ tử của tôi và xuất gia. Nhưng bởi vì người bạn đời của chú Vạn Bảo đã và đang tiếp tục bệnh, không được ổn định cho nên chú phải lo tròn bổn phận cưu mang, săn sóc ở nhà. Bởi vì tuổi tám mươi mấy rồi mà xuất gia thì không bao giờ được thọ đại giới nên không được làm Thầy mà chỉ được làm chú thôi, nên gọi là Sa di nhưng mà Tâm Tu ở nhà rất là tốt, vừa phụng đạo, vừa giúp đời, làm công việc tích cực của một người vừa đủ tài năng đức độ, không phải cao cả nhưng mà xứng đáng để làm một con người Phật tử đúng nghĩa.”



  Sau đạo từ của Hòa Thượng Thích Trí Minh, gia đình tang quyến chấp tay thành kính đứng vòng quanh quan tài để thực hiện nghi thức vái biệt cuối cùng, lắng nghe kinh tụng để quy tâm hướng nguyện, giúp hương linh nhẹ nhàng siêu thoát và đánh dấu thời khắc vĩnh biệt trước khi hỏa táng.



  Rồi sau đó tất cả những người tham dự lần lượt thắp hương, đảnh lễ trước bàn thờ Phật và Di ảnh, rồi đặt một cành hoa hồng trắng xung quanh quan tài, thể hiện lòng tiếc thương, nguyện cầu hương linh sớm được vãng sanh về miền cực lạc, trước khi ra về.










 

  Bác Huỳnh Bửu Phan sinh ngày 18 tháng 08 năm 1921 (Tân Dậu) ở Trà Vinh. Vừa chào đời ở quê nhà được vài ngày rồi theo gia đình về Sài Gòn cho đến khi khôn lớn và trưởng thành. 

  Tháng 5.1989 Bác sang Áo và chỉ một lần duy nhất về thăm Việt Nam vào năm 2010. Gia đình Bác có bảy người con. Người con trai đầu đã mất trong thời chiến. Còn lại sáu thì hiện nay có ba người con trai đang ở Việt Nam, ba người con ở Áo gồm hai trai, một gái. Cô gái đó là Hồng Nhung, mà vợ chồng chúng tôi đã gặp lại trong lần đến thăm khi Sư Bác vừa xuất viện được vài hôm trong tháng 7.2026 vừa qua.

  Đến năm 1995, lần đầu tiên Sư Bác xuất hiện trong Đại lễ Phật đản được Thượng Tọa Thích Trí Minh cũng lần đầu thay Thầy Thích Minh Tâm chủ trì, được tổ chức vào ngày 27.05.1995 tại Wien. Cũng trong ngày Đại lễ này, Bác Huỳnh Bửu Phan đắc cử chức vụ Hội trưởng, Hội VHXH Phật tử Việt Nam tại Áo, nhiệm kỳ 1995-1997, lúc đó Bác Phan 74 tuổi. Ngoài ra, một số Phật tử Salzburg và Linz, cũng là lần đầu tiên gặp Thầy Thích Trí Minh trong dip này. 

  Cũng trong năm 1995, Bác Hội trưởng Huỳnh Bửu Phan lần đầu tiên cùng Ban Chấp Hành và Thầy Thích Trí Minh đến Salzburg chứng minh Đại lễ Vu Lan, PL. 2539 vào ngày 12.08.1995.

 Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Bác, ngoài Ban Chấp Hành gồm Hội trưởng, hội phó, thư ký, thủ quỹ, còn có ban ẩm thực, văn nghệ và báo chí. Đến năm 1999 có thêm hai Lớp Việt ngữ, với số học sinh tham dự trên 30 cháu. Đến tháng 4.2000, khai trương Niệm Phật Đường đầu tiên ở Lorbeergasse, 1030 Wien. Rồi chín năm sau đó, vào ngày 01.03.2009, Hòa Thượng Thích Trí Minh và Thầy Seelawansa đã chứng minh lễ An Vị Phật Niệm Phật Đường Minh Tịnh, địa chỉ Haberlgasse 73, 1160 Wien, có diện tích chánh điện rộng và tiện nghi hơn Niệm Phật Đường ở Lorbeergasse.

  Cùng thời gian với bác Huỳnh Bửu Phan giữ chức Hội trưởng, tôi đuợc Ban Chấp Hành giao trông coi tờ Nội San Hoa Sen mà các nhiệm kỳ trước đã thực hiện đuợc 7 số. Tháng 10.2001, có thêm Bản Tin do Đh. Trương Hữu Thiện biên tập với nhiều tin tức Sinh hoạt Phật sự, các khoá học Phật Pháp, thiền tập, thể thao, du ngoạn và tin thế giới. 

  Bước qua năm 2002 có hai khóa Thiền tập vào tháng 4 và 5 do Thầy Seelawansa hướng dẫn cùng một khóa học tiếng Đức khai giảng cùng ngày. Cũng trong năm này, lần đầu tiên trong những nhiệm kỳ của Sư Bác Vạn Bảo, Hội đã nhận lời mời của HT Thích Trí Minh, Phật Tử Áo quốc 50 người và Thầy Seelawansa đã thực hiện một chuyến đi thăm ba nước Bắc Âu gồm Đức, Na Uy và Đan Mạch, từ ngày 12.07 đến 21.07.2002. 

  Đến Đại lễ Phật đản năm Quý Mùi 2003, Đh. Hội trưởng Huỳnh Bửu Phan được Hòa Thượng Thích Trí Minh chứng minh lễ Xuất Gia và lên chức Sư Bác với Pháp danh Vạn Bảo. 

  Năm 2010, Sư Bác đã bước qua tuổi 89 và đã 15 năm trên chiếc ghế Hội trưởng. Dù bác vẫn còn đi chợ nấu ăn được, nhưng đã trọng tuổi nên Sư Bác chỉ đến Chùa vào những ngày lễ lớn, có con cháu đưa đi và đón về. Điều này Hòa Thượng Thích Trí Minh thấy được nên đã có không ít lần đến nhà thăm.

  Những lần đáng nhớ là vào tháng 03.2017, Lê Tuấn và tôi vào thăm Sư Bác ở bệnh viện. May mắn lần này Bác đã vượt qua được cơn hiểm nghèo. Một lần khác cùng năm 2017, Lê Tuấn, Huệ Giác và tôi đưa HT Thích Trí Minh, Đại Đức Viên Tường và Viên Chiếu đi thăm Hallstatt, một thị trấn nổi tiếng đẹp và thơ mộng của Áo, cách Wien 300 km. Rồi chiều ngày hôm sau 06.05 (trước lễ Phật đản một ngày) tôi cùng Huệ Giác, Lê Tuấn và Huệ Nhật viếng Chùa rồi sau đó đón Hòa Thượng đến thăm bác Vạn Bảo. Hai vợ chồng Sư Bác ở quận 10, nay có Hòa Thượng đến thăm hai Bác mừng lắm, kể lại chuyện ốm đau và thăm hỏi đến mọi người. Hòa Thượng qua câu chuyện thân mật đã mang đến niềm vui và sự an lạc của tuổi già, trông Bác ốm hơn nhưng đã dần bình phục. Trước đó vài năm, Bác cũng đã nhiều lần muốn về hưu để có thời gian cùng con cháu chăm sóc người vợ hiền nay đau mai ốm, nhũ danh Huỳnh Thị Út, Pháp danh Chúc Viên đến giây phút cuối cùng. Và giây phút ấy đã đến vào sáng ngày 24.02.2019, thượng thọ 89 tuổi. Tang lễ của Cụ Bà đã được Hỏa táng vào ngày 01.03.2019 tại Zentralfriedhof Wien. 

  Lễ Đại Thọ Sư Bác 100 tuổi

  Một sự kiện vào ngày 18 tháng 08 năm 2021, tôi không phải là thành viên trong Ban Chấp Hành Hội Phật tử ở Áo, nhưng cũng được mời tham gia một “phi vụ bí mật” đến nhà Sư Bác Vạn Bảo tổ chức mừng sinh nhật. Thầy Seelawansa là chủ lễ. Phi vụ được giữ kín cho đến phút chót, cả nhà Sư Bác đều “vừa ngạc nhiên vừa sững sốt” dẫn đến một tình huống bối rối nhưng rất vui và cảm động. Thêm một bất ngờ nữa, khi được Sư Phụ Thích Trí Minh từ Oslo, Na Uy gọi thăm và chúc mừng, niềm vui như được nhân đôi khi thấy tất cả từ con cháu trong gia đình cho đến những vị khách không mời mà đến, với chiếc bánh Sinh Nhật rất “bắt mắt” đang được Sư Bác chiêm ngưỡng cùng những lời khen tặng đầy cảm xúc, rồi sau đó được cả nhà thưởng thức trong tiếng cười rộn rã. Thật là một ngày hạnh phúc khi thấy niềm vui luôn rạng rỡ trên khuôn mặt đôn hậu, đôi mắt bao dung và nụ cười nhân ái của Sư Bác Vạn Bảo Huỳnh Bửu Phan trong ngày đón mừng lễ Đại Thọ thứ 100.

  Chỉ một năm sau đó, 2022. Buổi họp mặt chia tay của Ban Chấp Hành đã có quyết định trên giấy trắng mực đen, Sa di Vạn Bảo được chính thức nghỉ việc lúc 101 tuổi và 27 năm trên chức vụ Hội trưởng. Tuy nhiên, thực ra từ năm 2010, lúc 89 tuổi Sư Bác đã lên tiếng muốn vừa nghỉ ngơi vì tuổi đã cao, vừa ở nhà để cùng các con chăm sóc cho người vợ hiền bệnh, đang được điều trị ở nhà. Do Ban Chấp Hành đã không sốt sắng giải quyết yêu cầu đơn giản này, và cũng không tổ chức bầu lại Hội trưởng và một Ban Chấp Hành mới, như những Ban Chấp Hành đầu tiên đã từng làm từ những năm 1987 đến 1995, chiếu theo Điều Lệ của Hội Văn Hóa Xã hội Phật Tử Việt Nam Tại Áo. Giấy phép số: z1.: I-SD/1367 BVP/87, làm tại Wien ngày 04.10.1987. Từ đó đã dẫn đến tình trạng không có người lãnh đạo (Hội trưởng) quá lâu, thiếu các ban ngành cùng nhân sự thì thiếu vắng sinh hoạt, không mở được một lớp Việt Ngữ hay Đức ngữ cho các cháu Phật tử, như những nhiệm kỳ từ 1998 của Sư Bác trước đây khi còn tại nhiệm. Do đó trách nhiệm này không thuộc về Sư Bác Vạn Bảo. Tóm lại, nhiệm kỳ cuối cùng của Sư Bác trên giấy tờ là từ 01.03.2020 – 28.02.2022 

  Đến nhiệm kỳ 01.03.2022 – 29.02.2024, có những chức vụ mới, hoặc kế nhiệm hay lưu nhiệm như sau:

  -Hai chức vụ chủ tịch, nhưng chỉ một người nắm giữ.

  -Phó chủ tịch (Phó Hội trưởng): lưu nhiệm.

  -Thư ký: mới.

  -Thủ quỹ: lưu nhiệm.  

  Chân Như (tr)-Hồng Nhung (áo xanh)-Lai Văn Hãnh (hàng sau)

Wien, 25.08.2024


  Sau sinh nhật 100 tuổi của Sư Bác Vạn Bảo vào tháng 8 năm 2021, tôi được gặp Sư Bác một lần nữa vào tháng 6.2024 trong dịp sinh nhật con trai của Lê Tuấn. Sư Bác đã đến cùng với vợ chồng con gái Hồng Nhung và Lai Văn Hãnh cùng một số Phật tử quen biết mà trước đây tôi thường gặp ở Chùa, hoặc trong những ngày lễ ở Wien, Linz hoặc Salzburg. Thấy Sư Bác khỏe, nước da hồng hào và vui khi gặp lại người quen. Nụ cười của Sư Bác luôn thân thiện khiến con cháu thương mến và ngưỡng mộ. Kể cả những lúc đau yếu, Bác vẫn nhẹ nhàng cùng thấu hiểu sự lo lắng và mệt nhọc của con cháu nên đã có lần Bác nói với Hồng Nhung là ba muốn ra đi sớm vì thấy con gái cực quá. Đây là một mẫu chuyện xúc động qua lời kể của Hồng Nhung trong bốn tuần lễ cuối cùng của Sư Bác Vạn Bảo Huỳnh Bửu Phan trước khi buông tay về bên kia thế giới. Bốn mốc thời gian đều rơi vào ngày thứ sáu cuối tuần:

  -Thứ sáu, 26.06.2026: Sư Bác được cấp cứu vào bệnh viện Klinik Donaustadt (tên cũ là Donau Spital). Ở bệnh viện, bệnh nhân không thấy đói, ăn và uống rất ít nhưng vẫn bị nôn ra ngoài. Thuốc cũng không uống được nên bác sĩ cho xuất viện chỉ sau một tuần lễ.

  -Thứ sáu, 03.07.2026: Sư Bác về đến nhà sau 20 giờ. Ở nhà Hồng Nhung cùng hai con và cháu thay nhau túc trực bên giường bệnh. Những ngày đầu Hồng Nhung tự chuyền ba lần nước biển rồi Bác nói không cần nữa. Tuy không ăn uống gì được, nhưng Bác không rên la, không nói đau chỗ này chỗ kia và cũng không than phiền cho đến hai ngày sau cùng không uống nước nữa, cũng là lúc Bác ra đi.

  -Thứ sáu, 17.07.2026: Bác qua đời ở nhà lúc 20 giờ 23 phút. Ngày xuất viện về đến nhà cũng sau 20 giờ.

  -Thứ sáu, 31.07.2026: Lễ Di quan Hỏa táng lúc 9 giờ ở Feuerhalle Simmering, 1110 Wien. Khoảng 150 người tham dự.

  Giờ thì Sư Bác đã đi rồi nhưng con cháu vẫn kính trọng và trân quý những công đức cùng phát nguyện trên đường tu tập cho đến những ngày cuối đời, mang đến cho chúng ta rất nhiều điều để học hỏi về cách Sống Đạo, được ví như Một Tượng Đài Giữa Vienna trong lòng người Phật tử ở Áo. Sư Bác đã sống tròn đạo đức giữa đời thường, luôn quan tâm và mở rộng lòng thương giúp đỡ những người nghèo khó. Sư Bác cũng là người con hiếu thảo, người chồng thủy chung và người cha mẫu mực. Lấy nếp sống an lạc, từ bi và trí tuệ hằng ngày để làm điểm tựa tinh thần cho hàng Phật tử tại gia noi theo.


TUỆ LAM

Wien, 01.09.2026