Ông NGUYỄN QUANG TUYẾN
(1953 - 1975)
Vào tuần cuối cùng của tháng 7.1975, từ Sài Gòn tôi có chuyến về thăm thành phố biển Nha Trang đầy bất ngờ. Tuy còn xa lạ nhưng cũng tìm được nhà bác tôi trên đường Hồng Bàng. Không chờ lâu, người mở cửa là bác Lệ, mẹ của anh Tuyến, là anh em chú bác ruột đã năm năm trôi qua nhưng chưa một lần gặp lại.
Hai bác cháu đều rất mừng và xúc động lần gặp lại nơi quê xa, tôi chưa kịp hỏi thăm sức khỏe thì bác đã chậm rãi như tâm sự:
-Bác cũng mong gặp con vì nhớ có lần con lên Pleiku thì đã cách đây khá lâu rồi. Nay con ghé thăm bác được là quý lắm, chắc con cũng biết là anh con giờ không còn nữa…
-Dạ, con biết. Con cũng vừa về thăm nhà. Ba mạ con nhiều lần nhắc đến nỗi buồn đau của bác lúc này, nên mong bác giữ gìn sức khỏe, chuyện gì cũng sẽ qua. Ba mạ con đang sắp xếp công việc rồi sẽ vào thăm bác một chuyến.
Sáng hôm sau bác chuẩn bị hoa trái hương đèn rồi hai bác cháu đi thăm phần mộ anh tôi, cũng là người con trai duy nhất của bác đã qua đời chỉ cách đây không lâu, khi hai mẹ con gần như kiệt sức trên đường di tản cùng dòng người dân và lính từ các tỉnh Cao Nguyên xuôi về miền đồng bằng Qui Nhơn, Nha Trang và các tỉnh phía nam vào lúc chiến sự đến hồi khốc liệt vào tháng 3.1975. May quá bác đã qua khỏi, còn anh tôi bị thương hàn, thiếu thuốc men nên đã qua đời chỉ mười hôm sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4.1975, lúc mới 22 tuổi đời.
Tôi ở lại một đêm nữa rồi sáng sớm hôm sau mang theo nỗi lòng biết tỏ cùng ai trên chuyến xe chật chội trở về Sài Gòn. Với bác tôi thì giờ đây chẳng có nơi nào để quyến luyến khi định mệnh đã lặp lại như hai mươi hai năm về trước, lúc anh tôi là đứa bé bất hạnh ngay từ lúc mới lọt lòng mẹ được 3 tháng tuổi thì người cha qua đời. Bác trai tôi sinh năm 1921, theo Việt Minh, bị Tây bắn vào năm 1953 ở Diên Khánh, Quảng Trị lúc 32 tuổi. Vợ bác là người phụ nữ trẻ, nết na hiền thục được gia đình chồng ai cũng thương mến bảo bọc, bác chấp nhận số phận không may để thờ chồng nuôi con cho đến ngày khôn lớn. Nhưng giờ đây một lần nữa, đứa con là cuộc sống của đời bác cũng mất, có đau đớn nào hơn khi trái tim của người mẹ vỡ tan trước phận đời hẩm hiu, cô quạnh.
Tôi cũng vậy, đã mất một người anh thân thiết mà thuở xưa ở quê nội lớn lên cùng trang lứa trải qua thời thơ ấu đẹp như bức tranh đồng quê thanh bình khi lửa đạn chưa lan tới. Đến mùa hè 1965 hai anh em bị chia cắt, khi tôi cùng với các em được mẹ hướng dẫn rời nhà lúc hai giờ sáng, vượt làng trong đêm đến Phò Trạch an toàn vào sáng sớm trước khi vào Huế. Năm ấy tôi 13 tuổi. Còn anh tôi ở lại làng, phụ giúp mẹ mỗi ngày ra chợ tảo tần buôn bán nuôi con.
Rồi hai năm sau, khi tôi đang quen dần nếp sống thị thành và có bạn bè mới, thì dường như cũng bắt đầu xa dần anh em và xóm làng quê cũ không liên lạc được vì chiến tranh, thì đột nhiên anh xuất hiện. Đó là những ngày vào mùa hè 1967 khi bác dâu dẫn anh vô Huế ở một thời gian, rồi bác một mình trở về làng chuẩn bị thu dọn nhà cửa chờ ngày ra đi như bao nhiêu gia đình khác trong thôn xóm, một khi điều kiện cho phép. Năm đó ba tôi đang làm thợ hình ở Pleiku nên bác vào thăm không gặp. Chính trong mùa hè này mà chúng tôi đã có một kỷ niệm không thể nào quên được cho tới bây giờ.
Mấy ngày đầu anh em trong nhà dẫn nhau vào thăm Đại Nội hay ra phố chỉ một hai lần rồi anh không muốn đi nữa, anh nói:
-Ở ngoài quê tau giúp việc nhà việc chợ với mạ và ngủ sớm quen rồi, chừ vô trong ni cả ngày chẳng làm chi thấy phí thời gian quá. Mi tìm coi có việc chi làm cho vui mấy ngày hè?
-Nói răng mà đúng lúc rứa, mạ tui đang tìm thợ làm nhà, anh sức mấy mà làm nổi!
-Được mà, để tau phụ với, mi nói với thím như rứa. Rồi anh kéo tôi sát tai:
-Có chuyện ni hay lắm, nhưng mi khoang kể cho ai biết hết…rồi anh nói to nói nhỏ cho tôi vừa đủ nghe “chuyện bí mật” của anh làm tôi nửa tin nửa ngờ vì chưa bao giờ nghĩ tới!
Tôi không thể dấu câu chuyện của ông anh nên kể cho mạ nghe không thiếu một chữ. Thấy mạ tủm tỉm cười rồi hỏi tôi:
-Con thích không?
-Dạ, con muốn đi với anh cho vui nhưng sợ mạ không cho.
-Được rồi, để mạ coi.
-Dạ.
Ngày hôm sau thấy mạ nói chi đó với anh Tuyến rồi gọi tôi tới:
-Mạ nói với anh con rồi, muốn thì thử cho biết.
-Dạ mạ.
Chiều hôm sau thấy mạ tôi đo đạc may túi vải, còn ông anh thì mang xe đạp ra bơm và coi lại cặp phanh xe rồi chạy thử. Trong lúc đó thì các em tôi vẫn vô tư vui chơi bình thường trong những ngày hè, không một chút mảy may nghi ngờ nhà sắp “có biến” do ông anh xếp đặt sẽ diễn ra trong nay mai.
Đến ngày thứ tư chừng 19 giờ gặp đêm trăng sáng, hai anh em tôi đã có mặt ở lò bánh mì trên đường Thái Phiên. Theo thỏa thuận trước thì tôi rành đường trong khu vực nên đạp xe. Tiền vốn mạ đưa cho anh giữ để mua bánh mì và một ít tiền lẻ để thối lại. Và cái quan trọng nhất mà đối với tôi có vẻ hơi khó thì ông anh nhà quê cũng nhận luôn: tiếng rao! Bởi vậy mấy ngày trước khi xuất hành anh đã tập rao nho nhỏ ở nhà như thế này: “Bánh mì nóng giòn đây! Bánh mì nóng nè bà con ơi! Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!” làm tôi được một trận cười thoải mái. Nói tóm lại tôi chỉ có một việc duy nhất là chở anh ngồi sau xe, mang một túi bánh mì mà tuần đầu tiên chỉ mua 20 đến 25 ổ mỗi tối (ổ bánh mì dài hơn một gang tay), bán thử trong 5 ngày đầu tiên rồi tính sau. Đó là lệnh của mạ.
Chỉ mất mấy phút là xong việc mua bánh đựng vừa vặn 25 ổ trong túi vải hai lớp có sức giữ ấm. Giá mua giá bán hai anh em đã đồng ý khi cùng đi thăm dò ở tiệm từ mấy hôm trước. Khi đã xong phần chuẩn bị thì mới nhớ là không ai có đồng hồ nên phải hỏi người đi đường: 8 giờ kém 10 phút tối. Tôi đạp xe theo những đường quen thuộc mà không cần hỏi anh nhưng nhớ lời mạ dặn: “đừng đạp xe nhanh mau mệt, không đi quá xa và chạy ở những khu vực có đèn đường thì tốt hơn”.
Hình minh hoạ do AI tạo
(Chụp lại trên Báo Viên Giác Hannover, số 275, tháng 10.2026)
Rồi bắt đầu, sau lưng tôi một tiếng rao bỗng vang lên lanh lảnh, trong như tiếng gà gáy sáng: “Bánh mì nóng giòn đây!” Nghỉ một chút, “chú gà” lại cất tiếng: “Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!” Thật không ngờ ông anh tôi rao nghe ra trò đến thế, không những thuộc bài mà còn rất tự nhiên. Từ ngã tư Thái Phiên – Cường Để đến gần cổng trường Phan Sào Nam bán mở hàng được 6 ổ cho ba người. Hai anh em lên tinh thần, tôi vẫn đạp thong thả trên những con đường đèn sáng trong khu vực cho đến khoảng 9 giờ tối đã bán được 22 ổ. Làm một bài tính nhẩm: vốn mỗi ổ 3 đồng, bán 5 đồng, 22 ổ lời được 44 đồng. Cho nên 3 ổ còn lại không bán nữa, nhớ đến mạ cũng thích bánh mì nóng khi mới vào sống ở Huế mấy năm trước nên liền đạp xe về nhà may ra mạ và các em còn thức, đến nhà chỉ vài phút sau đó. Lúc này thì bí mật đã được bật mí nên mạ đã cùng các con chia nhau ba ổ bánh mì thật vui, mà ồn ào nhất là khi công bố tiền lời thì ai cũng phải kinh ngạc!
Vì mạ cho bán một tuần chỉ 5 ngày thôi nên đến tối chủ nhật là xong tuần đầu tiên. Những ngày sau mạ và các em không đi ngủ sớm nữa mà chịu khó chờ vì có lúc hai anh về trễ. Nhưng dù sớm hay muộn, tối nào cũng dành vài ổ bánh mang về nhà mở tiệc mừng “bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây” với mạ và các em thật vui trước khi đi ngủ.
Thời gian hai anh em bán bánh mì được chừng một tháng rưỡi thì anh tôi được tin sẽ có chuyến đi với mẹ lên Pleiku vào tháng 8, trong thời gian đầu sẽ sống tạm với gia đình cô tôi đã đến lập nghiệp ở miền Cao Nguyên đất đỏ vào năm trước. Mạ tôi chuẩn bị cho anh một số áo quần, sách vở, đồ dùng và một ít tiền để tiêu xài trong chuyến đi xa.
Ba năm sau, đến mùa hè 1970 khi học xong bậc trung học, tôi đã có một chuyến đi Sài Gòn để tìm hiểu về các khoa ngành và trường lớp trước ngưỡng cửa đại học. Trước khi trở lại Huế sau một tuần ở Sài Gòn, tôi bay lên Pleiku thăm hai gia đình Cô và Bác. Về thứ bậc thì ba tôi là thứ 7 trong gia đình có 10 người con (bà chánh mẫu 8, bà thứ mẫu 2), 3 trai và 7 gái. Cô ở Pleiku là người chị thứ 2, góa phụ, có ba người con trai đều đã lập gia đình, tất cả ở Pleiku. Bác Lệ là chị dâu, vợ của người anh thứ 6, góa phụ, là mẹ của anh Tuyến, tên đầy đủ là Nguyễn Quang Tuyến, nhỏ hơn tôi một tuổi, hay còn gọi là “anh trai bánh mì” mà tôi đến thăm trong lần này.
Tôi lấy chuyến bay sớm nên khoảng 12 giờ trưa đã đến miền núi cao nguyên Pleiku. Trời khá đẹp vào ngày hè rực nắng trên những đồi thông thoai thoải cho đến những con đường vào thành phố. Sự có mặt của tôi là một bất ngờ từ cô cho đến bác Lệ và gia đình các anh chị trong nhà. Tôi được tiếp đón nồng hậu trong niềm quý mến và ai cũng nhớ đến ba tôi đã có một thời gian lên Pleiku làm ở tiệm hình vào năm 1967. Tuy vậy, tôi ở nhà cô chỉ một đêm vì ngày hôm sau anh Tuyến đến đón về nhà:
-Mi mang theo đồ dùng rồi về tau ngủ luôn, mai đi Kontum chơi.
Anh chạy qua một vài con đường không xa lắm rồi dừng trước căn nhà kín cổng cao tường, mở cánh cửa bên hông phải rồi đi tiếp vào phía sau sân thoáng rộng và có chỗ cho xe hơi. Biết tôi đang suy nghĩ gì đó nên anh giới thiệu:
-Tau ở đây đã hai năm rồi, nhờ quen biết với cô mình nên hai ông bà chủ đã giúp nuôi ăn ở trong nhà để tiện học nghề thợ bạc.
Tôi thật ngạc nhiên nhưng ủng hộ:
-Ừ, nhà mình chưa có ai học nghề này cả, nếu anh đã chọn thì phải cố gắng học thành tài.
-Thời gian đầu lên đây cũng lắm gian nan, thấy việc học chắc không đi đến đâu nên cô và các anh khuyên tìm một nghề để nuôi thân và sớm giúp mẹ là thực tế hơn cả.
Hai anh em đang xách đồ vào nhà thì bất ngờ thấy một cô bé trong nhà đi tới, tuổi chừng 15, 16 chào tôi rồi đi lên lầu, anh tôi nhìn theo:
-Tiểu Lan, con gái ông bà chủ.
Chiều hôm đó hai anh em ra phố, đi loanh quanh rồi dừng ở quán cà phê bên con đường dốc nhìn xuống thung lũng, nơi vừa có không gian ngồi ngắm chiều về phía bên kia đồi, vừa tìm lại ký ức vẫn còn nồng ấm trên chiếc xe đạp với bao bánh mì nóng qua những con đường vắng vẻ nhưng đầy trăng sao trong nội thành Huế. Thấy anh rất hào hứng khơi lại chuyện cũ nên ngồi lâu. Đêm đó hai anh em về khuya nhưng dậy sớm đế chuẩn bị cho cuộc đi chơi.
Rồi chỉ trong tích tắc bất ngờ, thật sự là không vui nhưng đã may mắn tránh được những điều rủi ro nhất trong tai nạn giao thông trên tuyến đường Pleiku-Kontum khi một chiếc xe Jeep của lính không quân đụng xe Honda do anh tôi cầm lái. Trong thời gian nằm viện, hai “bệnh nhân” được gia đình và một ít bạn bè anh tôi đến thăm, trong số bạn trẻ có hai cô bé mà tôi nhận ra được một khuôn mặt quen quen là Tiểu Lan, con gái ông bà chủ mà tôi đã gặp hai hôm trước ở nhà.
Tiểu Lan tay cầm hộp bánh, một tay kéo bạn đi theo cuối phòng nơi hai anh em tôi đang ngồi chuyện trò. Dù giây phút ban đầu có chút e lệ chừng mực, nhưng cô bé trông rất dễ thương với đôi mắt đen nhánh cùng mái tóc tự nhiên đã nói lên được nét thơ ngây và hiền lành. Tiểu Lan cũng có nhắc đến Huế với ước mong sẽ có dịp về thăm thành phố nổi tiếng này một lần đã làm tôi xúc động. Trước khi chuẩn bị ra về, Tiểu Lan và bạn không quên chúc hai anh mau khỏe để sớm về nhà.
Tôi cảm ơn Tiểu Lan món quà và cùng ra ngoài tiễn chân hai cô bé. Hôm nay thấy anh tôi vui khi có người đến thăm, vết thương ở chân còn băng bó chưa lành nên anh phải giới hạn đi lại. Còn tôi thì gần như dần bình phục nhưng vẫn còn ê ẩm có lẽ do bị văng quá mạnh sang bên kia đường rồi chẳng biết sống chết gì nữa sau đó. Tất cả đều may mắn, nếu không muốn nói là hy hữu trong tai nạn xe cộ.
Chúng tôi xuất viện sau năm ngày được điều trị thật chu đáo của quý y bác sĩ ở bệnh viện Pleiku, cũng là lúc tôi chỉ còn ba hôm nữa là sẽ trở về Huế. Tuy chỉ ba ngày nhưng tình cảm anh em gần gũi hơn và thương nhau nhiều hơn khi biết rằng đời sống vẫn luôn đổi thay, nên chuyện có điều kiện để hẹn một ngày hội ngộ là không hề dễ dàng.
Khoảng 10 giờ sáng ngày cuối trước sân nhà hai anh em chuẩn bị ra phi trường. Có một điều rất tiếc làm tôi nhớ mãi, là khi lên xe rồi vô tình quay lại phía sân nhà, thấy Tiểu Lan đôi mắt đỏ hoe bên cánh cửa trước thang lầu, tay cầm chiếc hộp nhỏ vừa rơi xuống đất thì chiếc xe anh tôi đã phóng ra đường. Sau này Tiểu Lan kể lại câu chuyện này giống như những gì mà tôi đã thấy và thật bất ngờ trong lá thư đầu tiên cùng chiếc cà vạt màu xanh nhung mà tôi nhận được ở Huế vào tháng 8.1970 do Tiểu Lan gởi tặng qua bưu điện.
Có lẽ ở cái tuổi mười sáu, mười tám ấy, chúng tôi đều đã cảm nhận được một điều gì đó rất gần gũi mà chẳng ai nói thành lời. Tiểu Lan còn là một cô bé, còn tôi vừa rời ghế trung học, trước mặt là ngưỡng cửa đại học với bao dự tính cho tương lai. Không một lời hẹn, cũng chẳng một lời từ biệt. Hai người trẻ chỉ lặng lẽ bước qua nhau, mang theo một chút bâng khuâng của tuổi đầu đời.
Đâu có ai ngờ rằng những giây phút tiễn đưa này cũng là lần cuối cùng gặp gỡ. Rồi sau đó mỗi người một ngả.
***
Sau năm năm im hơi lặng tiếng, anh Tuyến của tôi đã ra đi vào tháng 5 nhưng đến tháng 7.1975 tôi mới đến được Nha Trang, thắp một nén hương trước phần mộ của anh, cùng thấm nỗi xót xa của một người mẹ mất con là vô cùng tận.
Khi tôi ra nước ngoài được ba năm, năm 1990 mạ tôi từ Huế vào Nha Trang đưa tro cốt anh Tuyến về quê nhà Chính An, để anh được nằm lại bên cha và ông bà, nơi chôn nhau cắt rốn.
Hai năm sau, bác Lệ cũng trở về nguyên quán ở làng Trung Thạnh, chỉ cách quê chồng một tiếng gọi. Những năm cuối đời, bác sống trong sự chăm sóc của các cháu, giữa xóm làng ngày một thưa vắng. Rồi tháng 12 năm 2013, bác cũng đã ra đi.
Vậy là một người mẹ đã tiễn chồng, rồi tiễn đứa con duy nhất của mình, cuối cùng cũng trở về với quê nhà. Những người của một thời ly tán, sau bao nhiêu năm lận đận, rồi cũng lần lượt tìm về nằm lại bên nhau. Sưởi ấm nhau trên mảnh đất quê hương.
Chỉ còn người ở lại, đôi khi nhớ một đêm trăng ở Huế, nhớ chiếc xe đạp hai anh em đi qua những con đường vắng, và bên tai như còn nghe văng vẵng đâu đó giọng rao của một chàng trai mới mười mấy tuổi: “Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!”
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua. Bao người thân quen đã lần lượt về với lòng đất mẹ.
Mà sao tiếng rao của những đêm trăng năm ấy, vẫn cứ còn vương vấn mãi đâu đây...
NGUYỄN SĨ LONG

