Minh Ngọc - Phi Hoàn (Edmonton, Canada)
Trong hai năm học đầu tiên ở trường Luật, Huế có lẽ Phạm Như Tân và tôi là gặp nhau thường xuyên nhất vì nhà hai đứa chỉ cách nhau cống Vĩnh Lợi trong Thành Nội. Nhà Tân có vườn rộng, hồ cá kiểng, nhiều loại hoa, cây trái và hai hàng chè tàu thẳng tắp từ ngõ vào cho đến tận bên trong sân vườn. Thỉnh thoảng ghé Tân chơi vào buổi tối, hai đứa thường ngồi trước sân chuyện trò và hút thuốc, đôi khi đến khuya mới về nhà. Không những chơi thân với Tân và Thảo (những lúc ba đứa vào trong đại nội học thi), tôi còn được gia đình ba mẹ Tân và các em rất quý mến nên coi như anh em trong nhà vì vậy tôi rất tự nhiên mỗi khi đến chơi.
Theo như ‘thầy Trần Thiện Tú’ coi chỉ tay thì số tôi nhiều may mắn ngoài trường đời hơn tình duyên, bởi vậy so với Tân thì sau năm 1975 cuộc sống của tôi ở Sài gòn dễ chịu hơn rất nhiều khi Tân đang trong thời gian học tập cải tạo. Có lẽ Tân thấy trước ngày về xa xôi, tương lai mờ mịt, người yêu bới xách thăm nuôi tội nghiệp quá nên đã khuyên Thảo 'thôi hãy quên anh' để nghĩ đến tương lai mình. Nhưng rồi phong ba bão táp cũng qua, lễ thành hôn đã được tổ chức, hai hạt giống ra đời và cho đến nay cháu Huy đã lập gia đình nhưng còn ham chơi (lời của Tân & Thảo) chưa chịu sinh con cho ông bà nội có cháu để bồng, chờ hoài cũng thấy nóng ruột trong khi bạn bè cùng lứa xa cũng như gần đều đã lên chức ông bà nội ngoại lâu lắm rồi.
Sau khi được ra trại cuộc đời của Tân mới bắt đầu vất vả ngược xuôi kiếm sống suốt mười mấy năm trời, sức khỏe yếu dần, bệnh tật hoành hành tưởng chừng đã ra đi nếu không kịp bước lên được chuyến bay định mệnh để sang Hoa Kỳ vào năm 1993. Qua mấy lần điện thoại thăm hỏi và Email gần nhất cách đây mấy tháng Tân cho biết đã giải phẩu 6 lần chỉ riêng cho hai quả thận và hiện nay đang điều trị đau bao tử.
Sau Tân thì số bạn bè trên đường đi học còn có Tấn ở cửa Đông Ba là thường có ghé ngang mỗi tuần. Còn Hoa ở Lương Y, Tâm ở đường Hồ Xuân Hương và Tú ở Cửa Trài đều là những địa chỉ quen thuộc để họp bạn; nhưng khi Liêm vào Sài gòn, Tấn vào lính thì cả Tình cũng mất hút, hiếm khi có dịp đi uống café với người bạn thi sĩ này.
Ngoài ra có hai người bạn ít gặp nhất là Nguyễn Văn Nuôi và Nguyễn Phi Hoàn. Nuôi ngoài chuyện học còn bận rộn với công viêc và nghề tay trái là sửa đồng hồ, Hoàn thì ở trong Đại học xá Nam Giao nên ngược đường vì vậy chỉ gặp nhau trong giờ học và vài lần họp Nhóm mà thôi.
Sau mùa hè 1972 phải chờ cho đến khi Tấn và Hoàn vào Thủ Đức, tốt nghiệp xong rồi về nhận nhiệm sở cùng một binh chủng ở phi trường Đà Nẵng, xa xôi cách trở vậy mà tôi lại có duyên gặp lại hai bạn rất nhiều lần. Số là tôi có người dượng (chồng cô ruột) là quân cảnh, được cấp nhà ở trong phi trường, đặc biệt nhà thuộc dạng trại lính nhưng có máy lạnh, điều mà tôi thích nhất là mỗi đêm lên giường luôn có cảm giác sự ấm áp nhẹ nhàng giữa mát và lạnh nên có giấc ngủ rất ngon. Chính trong những chuyến vào Đà Nẵng nên mới gặp lại Tấn và Hoàn và qua đó đã được nghe Hoàn kể chuyện về những ngày phép vui chơi ở Sài Gòn.
Cũng trong thời gian này có một lần Tấn dẫn tôi đến thăm nhà một người chị của Tấn tên là Đông Hải, rất trẻ chừng 25 tuổi, chồng chết trận, có một con trai hai hoặc ba tuổi. Tình cảm đến rất nhanh nên sau đó tôi có đến thăm Đông Hải vào một buổi chiều tối và một ngày chở nhau trên chiếc Yamaha ra biển Sơn Trà ngồi uống cà phê tâm sự đến khoảng hai giờ chiều mới về, cũng là lần sau cùng gặp Đông Hải vì hình như tôi không còn dịp vào Đà Nẵng nữa. Đây chỉ là một chuyện tình ngắn ngủi nhưng nay nhắc lại cũng thấy tội cho Đông Hải đã sớm là góa phụ khi còn rất trẻ, rồi lúc quen với người con trai xứ Huế thì cũng chẳng đi đến đâu và sau đó không biết cuộc đời Đông Hải mấy chục năm qua đỗ ở bến nào?
Nói đến Đông Hải mà không nhắc đến Võ Thị Phương thì có thể làm cho Tấn buồn lòng vì Phương là em của bạn gái Tấn. Chính nhờ ông cò Tấn đưa lối dẫn đường mà trong lần Ban Tư Pháp trường Luật Huế vào tòa án Đà Nẵng thực tập tôi có dẫn Phương đi theo vào dự phiên tòa từ sáng cho đến chiều. Sau nầy Phương có ra Huế chơi một lần, và cũng như Đông Hải, Phương và tôi mất dần liên lạc có lẽ do xa xôi cách trở mà ra.
Tôi và Tấn có vài kỷ niệm ở Đà Nẵng trong một thời gian ngắn nên rồi cũng phôi pha theo tháng năm, nhưng Hoàn mới là người nhìn xa trông rộng, chàng ta đã đổ bê tông căn nhà tương lai trước mấy chục năm, để rồi một lần nữa lên xe hoa để sang tận Canada mà chúng ta đều biết về một câu chuyện tình thật đẹp mà cuộc đời của nhân vật chính vô cùng hấp dẫn, có thể in thành sách, dựng thành phim để được cùng chia sẻ niềm hạnh phúc với bạn bè.
Nhưng rồi cuộc đời đâu ai học được chữ ngờ. Sau 1975 trong lúc các bạn có những ngày mang áo lính được vào khu an dưỡng nghỉ ngơi, thì ngoài đời những người bạn khác lại bôn ba vất vả vì miếng cơm manh áo, và sau nữa là tìm người bạn đời để gởi tấm thân vừa đến độ trưởng thành. Một trong những người bạn đã lên xe hoa sớm nhất là Nguyễn Đức Tâm vào mùa hè 1972 vừa đúng 20 tuổi (người viết bài này tuổi hăm lăm mới sang ngang). Đối với những bạn khác rất tiếc là nhằm lúc vật đổi sao dời kẻ ở người đi nên không được tham dự một đám cưới nào nữa cho đến những năm sau này.
Vì trong phần lý lịch các bạn không ghi năm lập gia đình nên chỉ biết Hoàn và tôi cưới vợ cùng năm 1977 để sau đó có một lần thật bất ngờ vào khoảng tháng 2 năm 1978 vợ chồng tôi gặp Hoàn và Như Loan ở Sài gòn khi được Tú dẫn đến thăm chúng tôi khi đang còn ở căn nhà trên Tân Việt. Lúc đó thì Như Loan đang có thai còn vợ chồng chúng tôi vừa thành hôn trong mùa Giáng sinh 1977. Đây là giai đoạn bắt đầu một cuộc phiêu lưu của đôi vợ chồng mới cưới ra đi tìm chân trời mới mà cho đến giữa năm 1987 (tức là mười năm sau) trước khi tôi đi vượt biên vẫn không biết tin Hoàn và Như Loan trong thời gian đó đang ở đâu để mãi cho đến khi bạn bè tìm được nhau cách đây hơn một năm và qua thưđầu tiên của Phi Hoàn thì mới biết cảnh đời của Đôi Bạn thật thương tâm khi Như Loan đã qua đời vào năm 1993, để lại một đàn con thơ dại trong nỗi đau thương, ngậm ngùi!
Từ khi được bạn bè giao cho công việc biên tập Kỷ Yếu; mỗi ngày, mỗi tuần tôi đều có niềm vui khi nhận được bài vở của các bạn gởi về và qua đó thật là thú vị với những khám phá mới về tài năng của mỗi người. Một trong những người bạn đó là Nguyễn Phi Hoàn, khi đọc qua những sáng tác tôi mới thấy ở anh một tâm hồn đa cảm, rất tình người và đậm tình quê hương. Với mơ ước là mở ra một con đường mới để đi tới nhưng đôi khi trên hành trình khai phá, ở những nơi chốn hoang vu xa lạ dù chỉ là hương đồng cỏ nội ven đường đôi khi cũng để lại cho ta những dấu tích mà thời gian khó phai nhòa. Có thể đây là chất liệu bồi đắp thêm cho một tâm hồn chỉ chờ cơn mưa nhỏ cũng đủ để cho dòng lũ thơ văn tuôn trào. Và đây chính là những đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang từ lúc còn ở quê nhà cho đến khi ra hải ngoại để giới thiệu với bạn đọc gồm có: Tuổi Hai Mươi (thơ 1969), Nén Hương Lòng (thơ 1993), Hương Xưa (thơ 1995) và tác phẩm thứ tư tôi vừa nhận được do tác giả ký tặng vào ngày 18.02.2014 được gởi từ Canada là tập thơ Mùa Thu Còn Đó, nhà thơ Thái Tú Hạp giới thiệu, xuất bản năm 2010, dày 100 trang, khổ 21x14 gồm 63 bài thơ với nhiều thể loại.
Cầm tập thơ trên tay Mai và tôi vừa đọc vừa lau nước mắt với bài “Bàn Tay Em” và xem vài tấm hình chụp chung cả gia đình gồm hai vợ chồng cùng bốn đứa con, một hình bán thân của Như Loan và một tấm của Minh Ngọc rất là tươi trẻ với nụ cười:
Bàn tay hôm qua em còn cầm bút
Nay lại về chằm nón bài thơ
Bàn tay em cô gái văn khoa
Buông lững lờ trên chiếc nón
Tôi muốn cầm mà không dám
Cứ ngập ngừng khi muốn nói ’yêu em’.
Rồi đã có lần đi trong mưa gió đứng bên hiên nhà, nắm lấy bàn tay em mà nghe hơi thở quyện trong cơn gió chiều, lòng rộn ràng như thuở mới biết yêu để nghe đời hạnh phúc:
Rồi ngày tháng trôi qua
Tôi rước em về nhà
Bằng rượu hồng pháo cưới
Tôi đứng bên mà lòng vui như hội
Em cô dâu mới đẹp tựa nàng tiên
Tôi bắt cầu kiều cho em ghé bước sang
Bây giờ chúng ta tuy hai mà một.
Sau một chặng đường dài tha hương với bao thăng trầm nghiệt ngã, từ Sài Gòn đến Thốt Nốt, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá nhưng chàng vẫn mơ về một nơi chốn bình yên dù là một mái nhà tranh hay một túp lều nho nhỏ để con thơ được học hành và để hy vọng sau cơn mưa trời lại sáng. Nhưng cuộc đời đã không tha với ngọn roi đau gục ngã, chàng chết điếng người trước buổi chia ly:
Nhưng đời không tha ta
quất ta roi đau gục ngã
Anh chết điếng người khi biết em mắc bệnh nan y
Tình đôi ta có tội tình chi
Mà bắt phải chia lìa đôi ngã
Lòng tôi đau không còn tin gì nữa
Tin vào cuộc đời và tin cả nơi ta.
Ngày cuối cùng em sắp đi xa
Trong bệnh viện buồn một ngày chủ nhật
Anh ngồi bên em bàn tay em nắm chặt
Giọng em vẫn hiền hòa và vẫn thiết tha
Như thuở ban đầu mới gặp
Tôi cúi xuống gần em chút nữa
Để nghe tình ấm giữa cơn đau
Tôi cười với em
Ngăn dòng nước mắt tuôn tràn
Em choàng qua vai tôi xoa đầu nắn mũi
Em nói rằng em sẽ sống đến tuổi bảy mươi
Miệng em nói mắt em cười
Em vẫn đẹp như thời con gái
Em bảo: Anh cúi xuống cho em hôn một cái
Để đền bù ngày tháng anh nuôi em
Tôi cúi xuống vòng tay em mềm
Không ngờ đó nụ hôn cuối cùng, ly biệt.
Rồi cơn hôn mê đưa em về cõi khác
Khi Sài gòn còn giữa mưa khuya
Nước mắt trào dâng
Tình đã chia lìa
Thế là hết tôi mất một bàn tay ấm.
(Long Thành, 1993)
Tôi nhìn hình của Như Loan và Minh Ngọc một lần nữa trước khi xếp tập thơ lại, rồi nhớ về thư của Hoàn gởi hơn một năm về trước:
Canada, 18.01.2013:
“Mình qua đây được 13 năm nhờ sự bảo lãnh của người bạn gái cũ quen nhau khi còn ở phi trường Đà Nẵng. Loan vợ mình mất năm 1993 vì bệnh để lại cho mình bốn đứa con. Cô này về kết hôn lại với mình và bảo lãnh năm cha con, cũng là thời còn may”. NPH
Đúng là thời còn may. Tôi chưa từng hội ngộ với người phụ nữ trông mảnh mai đài các như đã thấy trong hình, nhưng sau tà áo mỏng manh kia là một trái tim độ lượng đã cứu một gia đình từ tình yêu và cả tình người, điều mà trong thế gian này chắc ít ai làm được như Minh Ngọc.
Xin gởi đến Minh Ngọc & Phi Hoàn cùng các cháu lời chúc mừng hạnh phúc với lòng ngưỡng mộ về Một Người Vợ và Một Người Mẹ Tuyệt Vời đáng kính.
NGUYỄN SĨ LONG
Salzburg, 14.04.2014
*Nguồn: Trích "Kỷ Yếu 40 Năm Nhìn Lại" (1974-2014) của Nhóm Sinh Viên Việt, Đại học Luật khoa, Huế. Ấn bản tháng 6.2014. In ở Stuttgart, Đức.
| |||
| ||||