Montag, 11. Mai 2026

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHỤNG SỰ

Thiền sư Thích Nhất Hạnh 

 

   Nhân chuyến sang thành phố Salzburg giảng Thiền cho người Áo của Thầy Thích Nhất Hạnh vào tháng 11 năm 1994, làm tôi nhớ lại khi còn ở quê nhà đã có một thời gian là cộng tác viên của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH). 

   Lúc đó Thầy đang ở nước ngoài, tôi thì được Trường tuyển dụng vào làm việc ở Văn Phòng Điều Hành (VPĐH) số 380 A đường Công Lý, Sài Gòn mà không qua một lớp đào tạo nào như các khóa đàn anh đàn chị đi trước, đúng vào thời điểm chiến sự từ Cao Nguyên cho đến Miền Trung sôi động vào tháng 3.1975.

   Ngày 11.03.1975 tôi được chính thức nhận việc và trở thành một tác viên của Trường dù sự hiểu biết về tổ chức rất hạn chế cũng như những công việc sắp tới hợp với khả năng mình hay không thì tôi cũng có ít nhiều lo lắng.

  Hôm đến trình diện tôi được gặp Đại Đức Thích Từ Mẫn, thầy là Giám đốc Điều hành, sau những lời thăm hỏi và giới thiệu về cơ cấu tổ chức cũng như đội ngũ nhân viên chỉ riêng ở văn phòng, thầy có hỏi tôi là: -Con vào làm việc với Trường thì có ảnh hưởng gì đến việc học hay không?

   Thầy nói nhỏ nhẹ và thân thiện làm lòng tôi tiêu tan những lo âu đến nỗi cả đêm thao thức khó ngủ vì đây là lần đầu trong đời đi tìm việc làm, trước là để nhẹ gánh cho gia đình và sau nữa là thân tự lập thân.

Là một sinh viên Luật vừa ra trường vào mùa hè năm 1974, tôi cũng như những bạn đồng khóa khác rời gia đình và bè bạn vào những ngày đầu trở lạnh của mùa đông xứ Huế năm đó để vào Sài Gòn ghi danh bậc cao học ở trường Đại học Luật Khoa Sài Gòn và đồng thời ở trường Đại học Vạn Hạnh để lấy hoãn dịch học vấn. Có hai bạn thi đậu vào Sở Điện lực Sài Gòn và những bạn khác có người tập sự luật sư ở Huế, Đà Nẵng hay Nha Trang...

   Thời khóa biểu ở trường Vạn Hạnh cho các lớp bậc cao học được xếp vào buổi chiều cho nên tôi có nhiều thời gian để vừa học vừa làm. Nghe thầy hỏi tôi rất cảm động rồi thưa:

-Dạ thưa Thầy, con học sau 5 giờ chiều cho nên chắc không ảnh hưởng gì nhiều. Con cảm ơn Thầy.

   Thầy dẫn tôi đi ra hành lang một vòng để giới thiệu với các đồng sự. Văn phòng được thiết kế theo hình chữ U với hai tầng và sân thượng. Phòng làm việc của khối Công Tác ở lầu 1, phía bên phải. Phía bên trái là phòng làm việc của anh Thiều, tổng thư ký, nằm trong khối Kế Hoạch; ngoài ra còn có hai đồng sự là Nguyên và Thanh Phước.

   Tôi được chia về khối Công Tác, trưởng khối là Đại Đức Thích Toàn Giác mà chúng tôi thường gọi thân mật là Thầy Truyền, cùng phòng còn có Thầy Thọ và cô Bông, thư ký.

   Sau ngày chính thức nhận việc cũng là ngày mà giới truyền thông và báo chí nóng lên với tình hình chiến sự sôi động từ Cao Nguyên cho đến miền Trung; vì vậy VPĐH đã có nhiều công việc hơn như soạn thảo kế hoạch để khẩn cấp đối phó việc cứu trợ trước làn sóng người tỵ nạn tràn vào phía Nam.

   Ngày 12 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và Thầy Phước đi trại định cư Quảng Phú và Nông trại Thanh Văn để hoạch định chương trình công tác cho thời gian sắp tới. Nông trại Thanh Văn ở Quán Chim, Long Thành nằm trên tuyến đường Sài Gòn-Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi mà sau này khi tổ chức giải tán, chúng tôi được chia một lô đất để canh tác.

   Hai ngày sau tôi lại được phái đi Long Khánh để chuyển thư của Thầy Giám Đốc đến Thượng Tọa Thích Bảo Huệ. Trở về Sài Gòn tôi lại được Thầy trưởng khối giao công tác soạn nội quy cho Quảng Khánh. Cầm xấp tài liệu trên tay Thầy vừa cười vừa nói: 

  -Anh học Luật thì việc soạn thảo nội quy, điều lệ hợp với khả năng.Thời gian sắp tới tổ chức sẽ phái anh đi nhiều nơi để điều nghiên thực tế, vì vậy anh có nhiều thì giờ tìm hiểu thêm. Có gì chưa rõ anh cho tôi biết.

   Tôi vui vẻ nhận xấp tài liệu sau khi chú ý lắng nghe những lời chỉ bảo và dặn dò cẩn thận của Thầy, bụng thầm nghĩ chắc cũng không khó, lại nghe thầy nói còn đi điều nghiên và thời gian rộng rãi thì chưa phải lo.

   Nghĩ thì như vậy nhưng chiều hôm đó sau khi sắp xếp bàn làm việc cho gọn gàng ngăn nắp, tôi như thấy lòng mình vui biết bao khi đường đời đã đưa đẩy tôi đến nơi đây để nhận một công việc mà tôi nghĩ là rất thích hợp như đã từng ước mơ trong bao nhiêu năm qua khi còn ngồi trên ghế nhà trường, là muốn được làm người nay đây mai đó để khám phá những điều chưa biết và đến những nơi chưa quen trên những nẻo đường quê hương, do vậy tôi bắt đầu đọc qua tài liệu và thử phát họa bố cục cho nội quy. 

   Giờ tan sở đã đến nhưng tôi chưa có một ý niệm nào trong đầu, quả thật trống rỗng. Tôi thấy người như nóng bừng và cảm nhận được sự việc không đơn giản như những điều đã học trong các bộ luật hoặc những kiến thức đã đọc được qua sách vở.

    Những ngày sau đó tôi phải tạm quên đi xấp tài liệu trong ngăn kéo vì đi công tác liên tục. Hôm 19 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và anh Thiều vừa từ Long Khánh về tới Sài Gòn lúc 12 giờ trưa thì nhận được tin Huế di tản đồng thời với lá thư của ba tôi đề ngày 14 tháng 3 báo cho biết là đang chuẩn bị vào Đà Nẵng nếu Huế mất. Vậy là cả gia đình nay đang đâu đó trên đường chạy loạn với nhiều bất trắc rủi nhiều hơn may đang chờ ở phía trước. Tôi muốn về nhưng chẳng biết phương mô mà tìm? 

   Ngày hôm sau tôi gởi thư tay nhờ thầy Thọ mang về Huế, thầy đi được một ngày thì có tin phường Tây Lộc trong Thành Nội hứng 74 trái đạn pháo kích và ngày 22 tháng 3 nhận thêm 130 trái nữa chia đều cho cả thị xã. Lòng tôi như thiêu đốt nhưng may quá chỉ hai ngày sau đó thì nhận được điện tín của ba tôi: -Gia đình vào Đà Nẵng bình yên.

   Thế nhưng tình hình miền Trung, nhất là Đà Nẵng lộn xộn còn đi nhanh hơn cả điện tín. Cả nước bàng hoàng khi Đà Nẵng mất vào ngày 29 tháng 3, những ai có thân nhân và gia đình ở Đà Nẵng đều sống trong niềm lo âu và rất căng thẳng.

   Qua tin tức mà Văn Phòng nhận được hiện Đà Nẵng đã có một triệu dân tỵ nạn và hỗn loạn chưa từng thấy! Vài hôm sau giờ làm việc tôi có ra Thương Cảng Sài Gòn hai lần để tìm kiếm thân nhân và người quen nhưng chẳng có chuyến tàu nào từ miền Trung cập bến. Không làm được gì khác hơn là cầu nguyện cho gia đình và người thân không phải là những kẻ xấu số.

   Để đáp ứng tình hình chiến sự vào những ngày đầu tháng tư, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã thành lập một ủy ban cứu trợ lấy tên là Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc Trung Ương (UBCTNNCCTW) mà chủ tịch là Thượng Tọa Thích Huyền Quang với nhiều đoàn công tác, trong đó có đoàn An Lợi, tôi được đề cử làm trưởng đoàn.

   Ngày 2 tháng 4 văn phòng điều một xe đi Vũng Tàu để thành lập UBCTNNCC thị xã Vũng Tàu. Hai ngày sau tôi lại về Bến Đá (hai tàu 505 và 404 cập bến), vào trại Chí Linh phát phẩm vật cứu trợ đồng thời tìm thân nhân nhưng chẳng gặp ai.

   Liên tiếp gần một tuần lễ tuyến đường Sài gòn–Long Thành –Bà Rịa–Vũng Tàu tôi lên xuống liên tục để mang phẩm vật cứu trợ đến các trại tạm cư, về lại Sài Gòn trình TW con số đồng bào nhập trại mỗi ngày để có kế hoạch khẩn cấp. Cả văn phòng đều bận rộn, máy điện thoại reo và gọi liên tục, không ai có nhiều thì giờ để ra ngồi quán cà phê đối diện với văn phòng.

   Trong nỗi buồn vì đất nước mãi chiến tranh, nỗi lo vì gia đình thất tán, ít nhiều cũng tìm được niềm vui và an ủi trong công việc, tuy mệt nhọc nhưng đầy ý nghĩa của một thiện nguyện viên trên bước đường phụng sự xã hội. Có nhiều chuyến đi khi trở về Sài gòn thì đã quá muộn nên tôi phải bỏ cả giờ học vì công tác cứu trợ đã lên tới cao điểm khi các tỉnh miền Trung đồng loạt di tản từ dân cho tới lính! Có nhiều trại tạm cư nên tổ chức không đủ nhân viên để phái đi, vì vậy đến ngày 7 tháng 4 đoàn công tác An Lợi về Làng Cô Nhi Long Thành với con số đồng bào lánh nạn ghi được 17.000 người!

   Tôi lại trở về Sài Gòn để tường trình chi tiết và đồng thời lập dự  án mới. Các phẩm vật cứu trợ thường là gạo, sữa, nước tương, dầu, xô đựng nước, đệm...được đặt mua từ các hãng ở Chợ Lớn.

   Vào ngày 8.4.1975 tôi đang ở Sài Gòn để đặt mua phẩm vật thì bom rơi Dinh Độc Lập. Sài Gòn rục rịch xáo trộn. Các tuyến đường ra Trung ít nhiều đã bị cắt do đó có một số anh em sinh viên ở trường Đại học Vạn Hạnh cũng như tôi mất liên lạc với gia đình. Vì vậy tôi đã thay mặt tổ chức đến gặp số anh em này để nhận họ vào đoàn công tác. Đa số các em đều ở Quảng Nam, Đà Nẵng, chỉ có một nữ sinh viên Mỹ Hạnh cũng đi theo đoàn.

   Sáng hôm sau anh em chúng tôi tất cả 9 người lên đường về An Lợi mang theo 2.720 chai nước tương, 1.700 cái xô, 1.500 chiếc chiếu và 10 bao gạo. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc, ai nấy đều vui vẻ, nhiệt tình như không có chuyện gì buồn vừa xảy ra. Lại có thêm Mỹ Hạnh lo chuyện bếp núc, chăm sóc anh em chu đáo từ điếu thuốc cho đến ly cà phê hoặc ly nước khi trời nắng chang chang mà phải dựng nhà, đào hố tiêu giúp đồng bào hay khuân vác phẩm vật để phân phối.

   Ngày 14 tháng 4, chỉ sau hai hôm đoàn công tác đến, số đồng bào kiểm kê được là 41.000 người vì vậy  đoàn đã được tăng cường bác An và Thầy Vĩnh Hạnh, cũng là người Đà Nẵng. Thầy chỉ hơn tôi vài tuổi, vui vẻ, tháo vát và tế nhị, bác An cũng vậy nên chúng tôi mới gặp nhau nhưng tình thân đến rất nhanh. 

   Có chừng một hai buổi tối sau khi cơm nước xong, Mỹ Hạnh pha một bình trà rồi chúng tôi ra sân ngồi quây quần bên nhau ca hát sau một ngày làm việc mệt nhọc, tiếc là những giây phút văn nghệ cây nhà lá vườn đó không lâu vì Cộng quân đã tiến gần Long Khánh và sư đoàn 18 đang đi thụt lùi. Vậy mà sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời tôi vẫn còn nhớ tiếng hát của Thầy Vĩnh Hạnh với bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” thật hay và hùng tráng xen lẫn điều gì đó trong tôi như nỗi buồn phiền và lo âu khi thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời muôn ánh sao đêm rồi thương nhớ gia đình không biết bây giờ đang trôi dạt nơi đâu?!

   Ngày 21 tháng 4 trong lúc đoàn đang đào thêm hố tiêu và lập danh sách trẻ em để cấp sữa thì nghe được diễn văn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trên đài phát thanh. Tình hình quả thật quá rối ren nhưng tại trại tạm cư có quá nhiều công việc để làm, nên ông Thiệu còn tại chức hay từ chức nghe qua rồi bỏ, không quan tâm. Con người đã đến đường cùng thì không còn sợ hãi. Chúng tôi vẫn làm việc quên giờ giấc cho đến đêm 24 tháng 4 Cộng quân pháo vào thị trấn Long Thành và trại tạm cư. Sáng hôm sau ngoài đường lộ tiếng xe tăng, tiếng súng đì đùng đã thấp thoáng đó đây. Đoàn chúng tôi quyết định ở lại hai ngày nữa để phát cho xong số phẩm vật mới nhập trại và để xem xét tình hình ở lại hay là rút?

   Tối 26 tháng 4 đoàn An Lợi vào chùa Siêu Hình để họp với quý Thầy. Buổi họp quyết định rút!

   Thế là sáng ngày 27 tháng 4 một đoàn Tăng và cư sĩ của chùa Siêu Hình cùng với đoàn công tác An Lợi trương cờ Phật Giáo xếp hàng một tiến ra quốc lộ để về Sài Gòn. Đoàn chúng tôi đã đi qua vài điểm đóng quân của lính Cộng Hòa, có vài xác chết của thường dân hai bên đường, không biết vì bị pháo kích hay có đụng độ của một vài đêm trước khi tiếng súng vọng về trại tạm cư?

   Chúng tôi vừa đi bộ vừa chạy đua với hàng ngàn chiếc xe đang nối đuôi nhau "bò" về thủ đô. Về đến Sài Gòn thì trời đã quá trưa, tay chân rã rời, mệt mỏi nhưng quên cả đói khát khi được tin gia đình đã trở lại Huế bình yên. Thêm một nỗi mừng nữa là biết mình vẫn còn sống nhưng chẳng còn tâm trí nào để nhớ tới bản nội quy chưa làm!

   Trưa ngày 30 tháng 4 tôi lên sân thượng VPĐH nhìn về phía chùa Vĩnh Nghiêm. Trên đường Công Lý từng đoàn người dân có, lính có, lại có nhóm kéo lê báng súng đang đi về hướng Sài Gòn. Nghĩ lại mình trước đây ba ngày cũng tả tơi như thế!

   Những ngày cuối tháng 4.1975 như cơn lốc xoáy mang đi sự bình yên của đô thành thì đầu tháng 5 bầu trời ảm đạm như bộ mặt của Sài Gòn trước những cơn mưa chiều bất chợt. Văn Phòng vẫn mở cửa sau một ngày lễ và tôi đã trở về với công việc khi cùng Vinh trở lại An Lợi với chừng 5.000 đồng bào còn lại trong trại tạm cư. Gần một tuần sau thầy Vĩnh Hạnh và các em sinh viên Vạn Hạnh rất nhiệt tình góp mặt trong ngày 6 tháng 5 để cùng nhau chia sẻ với đồng bào những gian khổ một lần nữa trước khi chia tay trở về quê sum họp với gia đình. Những lời chúc, những bàn tay nắm chặt cùng những ân tình không nói nên lời cũng đủ làm xao xuyến những trái tim non trẻ bước đi không rời. Dù tiếng súng đã im hẳn và đồng bào lánh nạn người trước kẻ sau đã lần lượt trở về quê quán, nhưng tôi vẫn được phái đi để cập nhật nhu cầu cứu trợ cho đến khi không còn ai là “người di tản buồn” trong trại nữa, đó là chuyến cuối cùng đi Long Khánh, về ngủ đêm ở nông trại Thanh Văn và sáng hôm sau ngày 6 tháng 6.1975 đi xã Thái Thiện cùng với Đại Đức Thích Thiện Quang.

   Xen kẽ với công tác cứu trợ vào giai đoạn cuối trong hai tháng 5 và 6.1975, tôi đã cùng một vài đồng sự về Chùa Pháp Vân, quận Tân Phú là cơ sở chính của Trường để họp và tham dự vài sự kiện trong đó có Lễ Hiệp Kỵ các anh chị tác viên đã hy sinh cho lý tưởng phụng sự do các anh chị cựu tác viên tổ chức vào ngày 22 và 23 tháng 4 hàng năm; sau đó là ngày Giỗ Thầy Châu Toàn vào tháng 5 Âm lịch.


 

   Cho đến cuối tháng 7 cũng là những ngày cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành khi chính quyền mới đến tiếp thu vào ngày 1 tháng 8 năm 1975, tôi chỉ về trường được ba lần, qua đó mới biết là trường TNPSXH là một phân khoa thuộc trường Đại học Vạn Hạnh (cũng là trường mà tôi đang theo học) do Thầy Thích Nhất Hạnh thành lập và khóa đầu tiên được khai giảng vào năm 1964 nhằm đào tạo một lớp trẻ có khả năng và chí hướng để hòa nhập vào cuộc sống của người dân trong những vùng nông thôn nghèo khó như xây dựng trường học, tạm xá hoặc giúp đỡ những gia đình vô gia cư...

   Trước năm 1975 tên tuổi Thầy không xa lạ trên văn thi đàn và trong giới sinh viên như chúng tôi thời đó qua nhiều tác phẩm như Am Mây Ngủ, Đạo Phật Ngày Nay, Nẻo Về Của Ý, Nói Với Tuổi Hai Mươi, Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, Bông Hồng Cài Áo... và khi Thầy ra nước ngoài từ năm 1966  “với những hoạt động không ngừng nghỉ, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma”(Nguồn: Vũ Hoàng, AP đánh giá trong một bài viết năm 2009).

   Ngoài Tu Viện Làng Mai ở Pháp là cơ sở chính, Thầy đã mở nhiều thiền viện cùng những trung tâm thực hành và đi khắp thế giới thuyết giảng cũng như tổ chức những khóa Thiền. Cũng nhờ vậy mà tôi đã được gặp thầy Nhất Hạnh, Sư cô Chân Không, Sư cô Thoại Nghiêm và Sư cô Diệu Nghiêm nhân chuyến Thầy đi giảng Thiền cho người Áo vào hai ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1994 và một buổi tối dành cho đồng bào Phật tử tại thành phố Salzburg.

   Trở lại hơn 40 năm về trước, tuy thời gian làm việc như một tác viên cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành thuộc trường TNPSXH trước nhu cầu cấp bách về cứu trợ ở vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến, nhưng tôi chưa một lần e sợ những làn đạn vô tình hay e ngại những khó khăn mệt nhọc trên đường công tác thiện nguyện.

   Cho đến bây giờ tôi vẫn lấy làm vui sướng khi có dịp nhớ về và sống lại một quãng thời gian khi mới bước chân vào đời đã có lúc vì người quên mình, trong công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc như là một chặng đường rất khiêm tốn phụng sự xã hội.

NGUYỄN SĨ LONG

Dienstag, 7. April 2026

GIỮA ĐỜI ANH

 

Như giữa đời anh đã có em 

Từng bước em qua thật êm đềm 

Anh như bọt biển trong cơn gió 

Vỡ giữa hư không giữa sóng mềm

 

Em đã đến thật giữa đời anh

Môi hồng nắng ấm mắt em xanh 

Tóc đan từng sợi tay anh vướng 

Giữa bước phiêu du giữa mộng lành

 

Anh ngắm mắt em đẹp trời thanh 

Sâu hút chân dung một bóng hình 

Trời ơi, trong đó anh bé bỏng 

Giữa trái tim em chưa thấy mình

 

Anh nhớ môi em điểm nụ cười 

Tóc buồn mơn trớn tuổi đôi mươi 

Thật nhẹ bàn tay em kh lướt 

Đời anh nghiêng ngả nữa hay thôi

 

Anh ngắm em đi dáng thật hiền 

Đôi gót chân son của nàng tiên 

Ước chi anh được là cơn gió 

Để thổi em bay giữa mọi miền

 

Như giữa đời anh em bước qua 

Lời ru trở lại thuở ngọc ngà 

Mùa đông đang tới mà sao ngỡ 

Như nắng xuân về giữa nụ hoa

 

Như giữa lòng em có những chiều 

Bao lần thương nhớ lẫn cô liêu 

Làm sao nói được yêu hay ghét 

Khi trái tim thơ đã cảm nhiều

 

Anh đứng bên này của ước mơ 

Vòng tay khép lại tháng năm chờ 

Biển xa lồng lộng chim bay mãi 

Anh vẫn yêu hoài một dáng thơ. 

 

NGUYỄN SĨ LONG 

Palawan, 12.1988

 

Donnerstag, 12. März 2026

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG

Salzburg, 27.01.2026

   Vào giữa tháng giêng vừa qua, tôi thật bất ngờ nhận tin buồn từ Salzburg. Người chị Phật tử thường được gọi thân mật Chị Tư, là một trong những người Chị luôn có mặt trong những ngày Lễ cổ truyền hay Phật Đản và Vu Lan, đã qua đời vào ngày 18.01.2026 tại Salzburg, thượng thọ 86 tuổi. 

   Chị Tư tên thật là Lê Thậy, sinh năm 1940 ở Trà Vinh, Pháp danh Diệu Phước, cùng người em gái Huỳnh Hoa đến Áo vào năm 1980. Chị Tư hiền lành, ít nói và thật thà. Đến khi em gái lấy chồng thì chị vẫn sống chung, chị em đùm bọc nhau trên thuận dưới hòa cho đến cuối đời.

   Tuy trong lúc tang gia bối rối, nhưng chúng tôi cũng đã liên lạc được với chị Huỳnh Hoa để chia buồn, an ủi và hẹn sẽ gặp lại hai cựu đồng nghiệp Huỳnh Vĩnh Tân và phu nhân Huỳnh Hoa cùng hai cháu trai trong Lễ Tang sẽ được tổ chức vào ngày 27.01.2026.

Đại Đức Thích Trung Lưu - Ni Sư Thích Nữ Thiền Châu

   Trưa hôm đó tôi về đến Salzburg một mình bằng xe lửa, vì đâu đó tuyết vẫn còn rơi trên khắp nước Áo. Được em Viễn đón về nhà, dùng cơm trưa với Viễn & Hạnh trước khi ba anh em chúng tôi đến Bestattung Jung nằm trên đường Innsbrucker Bundesstraße, vừa đúng lúc Đại Đức Thích Trung Lưu, Ni Sư Thiền Châu đang cùng tang quyến là em rể Huỳnh Vĩnh Tân và hai con trai Vĩnh Sơn & Vĩnh Cường hướng dẫn bà con hiện diện lần lượt đến trước Di Ảnh thắp một nén hương, thành tâm cầu nguyện cho người quá cố sớm được vãng sanh miền Cực Lạc. Trong số những người tham dự còn có sự vắng mặt ngoài ý muốn của chị Huỳnh Hoa. Số là từ mấy chục năm qua, chị chưa từng đến dự một Lễ Tang nào của các gia đình bà con đồng hương chỉ vì một lý do tưởng như trẻ con, hay nói đùa nhưng là sự thật vì ai cũng biết chị Huỳnh Hoa rất “SỢ MA”, kể cả hình ảnh và video đám tang chị cũng không dám xem. Do đó ai đã biết thì rất thông cảm, rồi sẽ gặp chị cùng gia đình tang quyến ở nhà hàng Huy sau khi kết thúc buổi lễ.  

 Vĩnh Cường-Vĩnh Sơn-Vĩnh Tân  

   Đến 13:50 giờ, Thầy Trung Lưu và Ni Sư Thiền Châu bắt đầu Lễ Di Quan Hỏa Táng khi tất cả bà con ước chừng trên năm mươi người đã an vị trên những hàng ghế của hai bên căn phòng lớn và thoáng đãng, được hai nhân viên bảo vệ đứng ở hai cửa suốt buổi lễ cho đến người cuối cùng ra về khoảng 15:30 giờ. 

   Đây là lần thứ hai tôi gặp lại Thầy Trung Lưu và Ni Sư Thiền Châu ở Salzburg, cũng như lần trước gặp Thầy và Ni Sư trong lễ Di quan Hỏa táng thân nhân của một gia đình Phật tử vào tháng 10.2022. Điều làm tôi nhớ nhất là vào tháng 3.2018, chúng tôi gồm bốn Phật tử từ Salzburg qua thăm chùa Tâm Giác, München và được gặp Thầy Trung Lưu ngay trước cổng chùa khi Thầy đang cùng một số Phật tử dọn dẹp từ trước sân cho đến khu vườn sau chùa. Tuy thầy bận tay không tiếp khách được nhưng đã hai lần mời chúng tôi lên phòng trên lầu uống trà, cà phê và ở lại dùng bữa với một số Phật tử cũng đang sinh hoạt ở trên đó.

   Chỉ bao nhiêu đó thôi, nhưng trên đường lái xe trở về Salzburg, anh em chúng tôi ai cũng giữ lại hình ảnh đẹp của người Thầy có khuôn mặt rất hiền từ và thân thiện, tạm cởi chiếc áo nâu sồng vào ngày cuối tuần để hòa mình với Phật tử vun quén ngôi Chùa cho ngày một đẹp đẽ và khang trang hơn. Bây giờ gặp lại Thầy vẫn còn nhớ, thăm hỏi thân tình và có lời khen về cuốn sách của tôi gởi tặng Thầy mấy năm trước. 

   Giờ thì Chị Tư đã đi xa rồi nhưng tôi vẫn còn nhớ đến Chị trong những ngày lễ, kể cả lần đầu tiên có Chị khi Thượng Tọa Thích Minh Tâm đến Salzburg chứng minh Đại lễ Vu Lan, PL. 2538 vào ngày 26.08.1994 tại Hotel St. Virgil. Đi cùng với Đh. Hội trưởng Lê Văn Ty còn có Bs Nguyễn Hùng, Lê Tuấn, Bé, chị Kim Anh và Nguyệt. Khoảng trên 40 Phật tử tham dự.

   Lần này, nhờ vào sự cố vấn của TT Minh Tâm mà Đạo Tràng Salzburg đã được hình thành để ba tháng sau đó, một số Phật tử gồm Bà Ngoại, Chị Tư, anh Phát, anh Hiếu, anh Quang, Khương và tôi được vinh dự đón tiếp Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Sư Cô Chân Không và Phái đoàn chùa Làng Mai đến Salzburg giảng Thiền cho người Áo vào hai ngày 4 và 5.11.1994, cũng ở Hotel St.Virgil.

   Rồi một năm sau đó, cũng là lần đầu Thượng Tọa Thích Trí Minh, Phương Trượng chùa Khuông Việt, Oslo, Na Uy đến Salzburg chứng minh Đại lễ Vu Lan vào ngày 12.08.1995. Đi cùng Thầy có bác Hội trưởng Huỳnh Bửu Phan với đoàn xe bốn chiếc, được tổ chức tại hội trường ở Plainfeld cách Salzburg 15km. Hôm đó cũng có chị Tư cùng em gái, số Phật tử tham dự được ghi nhận đông hơn năm trước.

Hàng trước: TT Minh Tâm - Huỳnh Hoa (áo đen) - Chị Tư (áo trắng)

   Sau ba năm bận rộn khởi công xây dựng chùa Khánh Anh mới, Đạo tràng Salzburg một lần nữa được đón tiếp Thượng Tọa Thích Minh Tâm trong lễ Đầu Xuân vào ngày 28.02.1998 với khoảng ba mươi người tham dự được tổ chức tại nhà anh chị Nguyễn Tấn Phát. Đặc biệt trong lần này, hai chị em họ Lê và một số Phật tử Salzburg có mặt trong tấm hình chụp với Thầy Minh Tâm tính đến nay đã gần ba mươi năm.   

 Vườn hoa Mirabell, Salzburg       

   Về thăm Salzburg lần này là “một công hai chuyện”. Thời gian tuy eo hẹp nhưng đã có được những giây phút quý báu tưởng nhớ và tiếc thương đến Người Chị thân mến mà trong nhiều năm sống ở Salzburg, hai gia đình Lê & Nguyễn không khác gì người nhà. Ngoài tình thương của Dì Tư dành cho hai cháu Vĩnh Sơn & Vĩnh Cường là vô bờ bến, phải kể đến cha mẹ và các con hai bên thường qua lại, thăm viếng cùng những chuyến đi chơi xa như Linz, Graz và München. Riêng ở Salzburg thì gặp nhau cũng khá thường xuyên. Đặc biệt hơn cả là vợ chồng Vĩnh Tân & Huỳnh Hoa và vợ chồng chúng tôi cũng là đồng nghiệp ở hãng Mirabell Schokolade cho đến khi về hưu khoảng chừng hai mươi năm. 

   Hôm đó, gặp lại rất đông bà con là Phật tử quen biết, đồng hương và một vài đồng nghiệp nay đều đã trọng tuổi, ít nhiều cũng có sự thay đổi từ lời nói cho đến nụ cười, cùng niềm vui hội ngộ với năm gia đình trong Nhóm G7, là một nhóm Phật tử thiện nguyện ra đời vào năm 2010 khi gia đình tôi còn ở Salzburg. Nhóm chuyên lo việc thuê mướn hội trường, tổ chức và tiếp đón chư Tôn Thiền Đức đến Salzburg chứng minh những ngày lễ lớn như Đại lễ Phật Đản, Đại lễ Vu Lan thường mỗi năm được tổ chức một hoặc hai lần. Phật tử Salzburg và các vùng phụ cận như Linz, Tirol mỗi năm về tham dự ngày càng đông như trong tấm hình Đại lễ Vu Lan ở Hội trường St. Vincent Pallotti trên đường Hans Sachs Gasse, ngày 10.09.2017.


Đại Lễ Vu Lan, 10.09.2017, Salzburg

   Rất tiếc là sau Đại lễ Vu Lan vào tháng 09.2017 được tổ chức tại Salzburg, thầy Trụ trì chùa Pháp Tạng từ năm 2018 đến nay, đã không còn đặt chân đến hai Đạo tràng Linz và Salzburg nữa. Một vị tu sĩ đi rao giảng đạo đức mà xa lánh Phật tử là thiếu Đạo Tâm, khi thời gian đã bước sang năm thứ chín ròng rã không có một buổi lễ nào để tu tập. Thế nhưng hàng Phật tử vẫn im lặng và bình thản đến lạ thường khi mọi ánh mắt đều nhìn về ngôi chùa Pháp Tạng khi Thầy Trụ trì vẫn ung dung mỗi tháng đều đặn đặt một hoặc hai chuyến bay ra nước ngoài. Do đó Chùa luôn đóng cửa ngày đêm và không có một sinh hoạt nào như ngôi nhà hoang.

   Ở Salzburg vào những năm gần đây không còn nghe thấy ai nhắc đến Thầy nữa. Một vị Thầy Trụ trì ở một Ngôi Chùa có ba đạo tràng, thế nhưng chỉ ở Wien mới có lễ mỗi tháng một hoặc hai lần thường vào ngày chủ nhật. Tuần nào thứ bảy, chủ nhật không có lễ, là tuần đó Thượng Tọa chủ tịch đang ở nước ngoài!

TUỆ LAM, Wien 12.03.2026                                                                                                         

Dienstag, 17. Februar 2026

BẾP LỬA CỦA CHÙA

 

GIỚI THIỆU:

   Bước sang năm 2026, Tạp chí Viên Giác (Hannover, Đức) kỷ niệm chặng đường 48 năm liên tục phát hành. Đứng trước nhiều thách thức của báo điện tử, Tạp chí Viên Giác vẫn duy trì ấn hành báo in với tâm nguyện bảo tồn tiếng Việt và văn hóa dân tộc. 

   Từ tháng 12.2023, Tạp chí Viên Giác đã có những đổi mới về hình thức và nội dung với phong cách trẻ trung, sinh động hơn. Đặc biệt bổ sung thêm chuyên mục “Phật Giáo & Tuổi Trẻ”- Song Ngữ Việt-Đức/VN-DE phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi gia đình, như bài viết dưới đây của tác giả Thi Thi Hồng Ngọc đi trên Tạp Chí Viên Giác số 271, tháng 2.2026 là một ví dụ.


Thi Thi Hồng Ngọc (áo xanh - 9.2025)

BẾP LỬA CỦA CHÙA

   Dạo này thứ bảy nào cả nhà Thảo An đều về chùa tu tập. Từ ngày có Thầy Hạnh Đức về trụ trì, ngôi chùa làng hoang vắng đã có rất nhiều khởi sắc.

   Khu vườn đầy cỏ dại và rất nhiều cây ăn trái bây giờ được dọn dẹp sạch đẹp. Vách nhà gần đổ nát giờ nhờ thầy và các Phật tử thiện tâm cùng chung tay góp sức sửa sang nhìn mới mẻ và ấm cúng hẳn lên. Mỗi tuần thầy đều tổ chức khóa tu cho các Phật tử, không nề hà ít hay nhiều người. Thầy không bỏ chùa đi xa trừ khi có việc Phật sự mà nếu có đi thầy cũng báo tin ngày đi ngày về để Phật tử biết. Ai cũng quý sự khiêm tốn, điềm đạm và tận tụy vì chúng sinh của Thầy bởi khi nhà ai có việc gì cần thì Thầy luôn có mặt ở chùa để giúp đỡ họ. Đối với thanh thiếu niên thầy đặc biệt quan tâm, kiên nhẫn dạy dỗ, lại có nhiều phương pháp hay nên thu hút giới trẻ đến với chùa. Thầy nấu ăn rất ngon, Phật tử đến lễ chùa bất cứ giờ giấc nào cũng được thầy hỏi han có đói bụng không và rồi luôn có món chay gì đó tiếp đãi. Tiếng lành đồn xa, Phật Tử quy tụ về chùa ngày một đông, ai ai cũng hoan hỷ từ cụ già cho đến trẻ con. Thầy không những đem giáo pháp độ sanh mà còn đem sự ấm áp an vui đến cho ngôi chùa xa xôi hẻo lánh. Thảo An nói với mẹ: 

- Mẹ ơi! Mẹ biết con nghĩ Thầy Hạnh Đức thế nào không?

- Thế nào vậy con ? 

-Thầy là BẾP LỬA CỦA CHÙA đấy mẹ ạ! Không có bếp lửa thì không ai sống được ở chùa đâu!


   Bước sang năm 2026, trên Tạp chí Viên Giác tháng 2.2026 đăng Lá Thư Chủ Bút về Chuyên Mục THẾ HỆ 2+: TIẾNG LÒNG TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI, bắt đầu từ số 271.

   Thân gởi: Các bạn trẻ gốc Việt đang sinh sống ở khắp nơi trên thế giới – đặc biệt là ở Đức, xin trích:

  “Một trong những điều chúng tôi nhận biết rất rõ là: các bậc phụ huynh luôn thương yêu lo lắng và muốn thấu hiểu các thao thức của con cháu, nhưng nếu không có những lời thổ lộ tâm sự của các bạn trẻ, những tình cảm ấy có thể lạc nhịp đập, tạo hiểu lầm. Chính vì vậy, mỗi chia sẻ, mỗi bày tỏ cảm xúc đều có giá trị kết nối, chữa lành và làm sáng tỏ khoảng cách giữa các thế hệ.

   Với ước muốn tạo một không gian lắng nghe và đối thoại, Tạp Chí Viên Giác trân trọng mời các bạn trẻ thế hệ 2+ (và cả 1.5+, 3+...) tham gia viết cho chuyên mục “Thế hệ 2+: Tiếng Lòng Tuổi Trẻ Hải Ngoại”. Chúng tôi đón nhận mọi hình thức biểu lộ cảm xúc và sáng tạo: văn, thơ, nhạc, hội họa hoặc những hình thức khác.

   Chúng tôi mong được nghe những suy nghĩ của bạn về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo; về những trải nghiệm giữa Đông và Tây; những hành trình trưởng thành và khám phá bản thân; hoặc đơn giản là những ghi chép và suy niệm thường nhật.

   Mỗi tác phẩm gửi về sẽ là một mảnh ghép làm phong phú thêm bức tranh chung của Cộng đồng Việt Hải ngoại – và cũng là một cách giữ gìn sợi dây kết nối Tuổi trẻ Hải ngoại với Cội nguồn Văn hóa Việt Nam. Rất mong nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ các bạn.”

Thân mến

Chủ bút Tạp chí Viên Giác 

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn

Liên lạc Email:

chubut.viengiac@gmail.com


   Nhân dịp Xuân về, mến chúc bạn đọc đón năm mới Bính Ngọ tràn đầy niềm vui, hạnh phúc – An Khang và Thịnh Vượng.


Blog NGUYỄN SĨ LONG

Mùng 1 - Tết Nguyên Đán

Samstag, 7. Februar 2026

SÓNG

Sóng êm như tiếng thì thầm

Đêm khuya gợi nhớ cung đàn thuở xa

Sóng về v khúc hoan ca 

Ru em tròn giấc ngọc ngà an nhiên

 

Sóng cho em hết muộn phiền

Nhớ câu mẹ hát dịu hiền năm xưa

Sóng về trong buổi ban trưa

Má hây hây đỏ cơn mưa bất ngờ

 

Sóng về hốt hoảng giấc 

Sóng xô thành quách sóng chờ bình minh

Sóng chia thao thức đôi miền

Bên ni bên nớ triền miên dâng trào

 

Sóng chờ đêm xuống đầy sao

Trăng khuya vọng tiếng rì rào mênh mang

Sóng đùa với gió mây ngàn

Thuyền xa bến đậu lòng tan nát lòng

 

Sóng theo đến cuối nỗi sầu

Như chèo buông lái như cầu lững lơ

Biển mênh mông gió lặng lờ

Thả trôi con nước sóng vờ lặng câm

 

Sóng buồn sóng vỗ ầm ầm

Sóng than sóng khóc sóng thầm gọi tên

Thuyền như chiếc võng vô tình

Chấp tay em nguyện lời kinh cuối cùng

 

Sóng đi theo gió muôn trùng

Sóng say sưa k nỗi lòng cô đơn

Sóng thương sóng ghét sóng hờn

Trăm năm tại sóng mà đờn so dây

 

Sóng cho ta những nhịp cầu

Đưa ta về với miếng trầu ca dao

Quê hương vạn nẻo ngọt ngào

Người đi có nhớ dâng trào mến thương

 

Sóng ơi sao vẫn đôi đường

Sao chưa tìm bến sông Tương mà về?

Dòng đời muôn dặm sơn khê

Sóng đi đi mãi hồn quê ngậm ngùi.

 

NGUYỄN SĨ LONG

Freitag, 16. Januar 2026

TÂM TÌNH GỞI BẠN*

Minh Ngọc - Phi Hoàn (Edmonton, Canada)


   Trong hai năm học đầu tiên ở trường Luật Huế, có lẽ Phạm Như Tân và tôi là gặp nhau thường xuyên nhất vì nhà hai đứa chỉ cách nhau cống Vĩnh Lợi trong Thành Nội. Nhà Tân có vườn rộng, hồ cá kiểng, nhiều loại hoa, cây trái và hai hàng chè tàu thẳng tắp từ ngõ vào cho đến tận bên trong sân vườn. Thỉnh thoảng ghé Tân chơi vào buổi tối, hai đứa thường ngồi trước sân chuyện trò và hút thuốc, đôi khi đến khuya mới về nhà. Không những chơi thân với Tân và Thảo (những lúc ba đứa vào trong đại nội học thi), tôi còn được gia đình ba mẹ Tân và các em rất quý mến nên coi như anh em trong nhà, vì vậy tôi rất tự nhiên mỗi khi đến thăm bạn.

   Theo như thầy Trần Thiện Tú coi chỉ tay thì số tôi nhiều may mắn,ngoài trường đời hơn tình duyên, bởi vậy so với Tân thì sau năm 1975 cuộc sống của tôi ở Sài gòn dễ chịu hơn rất nhiều khi Tân đang trong thời gian học tập cải tạo. Có lẽ Tân thấy trước ngày về xa xôi, tương lai mờ mịt, người yêu bới xách thăm nuôi tội nghiệp quá nên đã khuyên Thảo 'thôi hãy quên anh' để nghĩ đến tương lai mình. Nhưng rồi phong ba bão táp cũng qua, lễ thành hôn đã được tổ chức, hai hạt giống ra đời và cho đến nay cháu Huy đã lập gia đình nhưng còn ham chơi (lời của Tân & Thảo) chưa chịu sinh con cho ông bà nội có cháu để bồng, chờ hoài cũng thấy nóng ruột trong khi bạn bè cùng lứa xa cũng như gần đều đã lên chức ông bà nội ngoại lâu lắm rồi.

   Sau khi được ra trại cuộc đời của Tân mới bắt đầu vất vả ngược xuôi kiếm sống suốt mười mấy năm trời, sức khỏe yếu dần, bệnh tật hoành hành tưởng chừng đã ra đi nếu không kịp bước lên được chuyến bay định mệnh để sang Hoa Kỳ vào năm 1993. Qua mấy lần điện thoại thăm hỏi và E-mail gần nhất cách đây mấy tháng Tân cho biết đã giải phẩu 6 lần chỉ riêng cho hai quả thận và hiện nay đang điều trị đau bao tử.

   Sau Tân thì số bạn bè trên đường đi học còn có Tấn ở cửa Đông Ba là thường có ghé ngang mỗi tuần. Còn Hoa ở Lương Y, Tâm ở đường Hồ Xuân Hương và Tú ở Cửa Trài đều là những địa chỉ quen thuộc để họp bạn; nhưng khi Liêm vào Sài gòn, Tấn vào lính thì cả Tình cũng mất hút, hiếm khi có dịp đi uống café với người bạn thi sĩ này. 



Tình-Tấn-Long-Nuôi-Hoa (Huế, 2015)

  Ngoài ra có hai người bạn ít gặp nhất là Nguyễn Văn Nuôi và Nguyễn Phi Hoàn. Nuôi ngoài chuyện học, còn bận rộn với công viêc và nghề tay trái là sửa đồng hồ, Hoàn thì ở trong Đại học xá Nam Giao nên ngược đường vì vậy chỉ gặp nhau trong giờ học và vài lần họp Nhóm mà thôi. 

   Sau mùa hè 1972 phải chờ cho đến khi Tấn và Hoàn vào Thủ Đức, tốt nghiệp xong rồi về nhận nhiệm sở cùng một binh chủng ở phi trường Đà Nẵng, xa xôi cách trở vậy mà tôi lại có duyên gặp lại hai bạn rất nhiều lần. Số là tôi có người dượng (chồng cô ruột) là quân cảnh, được cấp nhà ở trong phi trường, đặc biệt nhà thuộc dạng trại lính nhưng có máy lạnh, mỗi đêm lên giường luôn có cảm giác sự ấm áp nhẹ nhàng giữa mát và lạnh nên có giấc ngủ rất ngon. Chính trong những chuyến vào Đà Nẵng nên mới gặp lại Tấn và Hoàn và qua đó đã được nghe Hoàn kể chuyện về những ngày phép vui chơi ở Sài Gòn.

   Cũng trong thời gian này có một lần Tấn dẫn tôi đến thăm nhà một người chị bàcon của Tấn tên là Đông Hải, rất trẻ chừng 25 tuổi, chồng chết trận, có một con trai hai hoặc ba tuổi. Tình cảm đến rất nhanh nên sau đó tôi có đến thăm Đông Hải vào một buổi chiều tối và một ngày chở nhau trên chiếc Yamaha ra biển Sơn Trà ngồi uống cà phê tâm sự đến khoảng hai giờ chiều mới về, cũng là lần sau cùng gặp Đông Hải vì hình như tôi không còn dịp vào Đà Nẵng nữa. Đây chỉ là một chuyện tình ngắn ngủi nhưng nay nhắc lại cũng thấy tội cho Đông Hải đã sớm là góa phụ khi còn trẻ, rồi lúc quen với người con trai xứ Huế thì cũng chẳng đi đến đâu và sau đó không biết cuộc đời Đông Hải mấy chục năm qua đỗ ở bến nào?   

   Nói đến Đông Hải mà không nhắc đến Võ Thị Phương thì có thể làm cho Tấn buồn lòng vì Phương là em của bạn gái Tấn. Chính nhờ ông cò Tấn đưa lối dẫn đường mà trong lần Ban Tư Pháp trường Luật Huế vào Tòa án Đà Nẵng thực tập, tôi có dẫn Phương đi theo vào dự phiên tòa từ sáng cho đến chiều. Sau nầy Phương có ra Huế chơi một lần, và cũng như Đông Hải, Phương và tôi mất dần liên lạc có lẽ do xa xôi cách trở mà ra.

   Tôi và Tấn có vài kỷ niệm ở Đà Nẵng trong một thời gian ngắn nên rồi cũng phôi pha theo tháng năm, nhưng Hoàn mới là người nhìn xa trông rộng, chàng ta đã đổ bê tông căn nhà tương lai trước mấy chục năm, để rồi một lần nữa lên xe hoa để sang tận Canada mà chúng ta đều biết về một câu chuyện tình thật đẹp mà cuộc đời của nhân vật chính vô cùng hấp dẫn, có thể in thành sách, dựng thành phim để được cùng chia sẻ niềm hạnh phúc với bạn bè.

   Nhưng rồi cuộc đời đâu ai học được chữ ngờ. Sau 1975 trong lúc các bạn có những ngày mang áo lính được vào khu an dưỡng nghỉ ngơi, thì ngoài đời những người bạn khác lại bôn ba vất vả vì miếng cơm manh áo, và sau nữa là tìm người bạn đời để gởi tấm thân vừa đến độ trưởng thành. Một trong những người bạn đã lên xe hoa sớm nhất là Nguyễn Đức Tâm, vào mùa hè 1972 vừa đúng 20 tuổi (người viết bài này tuổi hăm lăm mới sang ngang). Đối với những bạn khác rất tiếc là nhằm lúc vật đổi sao dời kẻ ở người đi nên không được tham dự một đám cưới nào nữa cho đến những năm sau này.



Gia đình Hoàn & Loan (Long Thành, Đồng Nai)

   Vì trong phần lý lịch các bạn không ghi năm lập gia đình nên chỉ biết Hoàn và tôi cưới vợ cùng năm 1977 để sau đó có một lần thật bất ngờ vào khoảng tháng 2 năm 1978, vợ chồng tôi gặp Hoàn và Như Loan ở Sài gòn khi được Tú dẫn đến thăm chúng tôi ở căn nhà trên Tân Việt. Lúc đó Như Loan đang có thai, còn vợ chồng chúng tôi vừa thành hôn trong mùa Giáng sinh 1977. Đây là giai đoạn bắt đầu một cuộc phiêu lưu của đôi vợ chồng mới cưới ra đi tìm chân trời mới, mà cho đến giữa năm 1987 (tức là mười năm sau) trước khi tôi đi vượt biên vẫn không biết tin Hoàn và Như Loan trong thời gian đó đang ở đâu, để mãi cho đến khi bạn bè tìm được nhau cách đây hơn một năm và qua thư đầu tiên của Phi Hoàn thì mới biết cảnh đời của Đôi Bạn thật thương tâm khi Như Loan đã qua đời vào năm 1993, để lại một đàn con thơ dại trong nỗi đau thương, ngậm ngùi!

   Từ khi được bạn bè giao cho công việc biên tập Kỷ Yếu; mỗi ngày, mỗi tuần tôi đều có niềm vui khi nhận được bài vở của các bạn gởi về và qua đó thật là thú vị với những khám phá mới về tài năng của mỗi người. Một trong những người bạn đó là Nguyễn Phi Hoàn, khi đọc qua những sáng tác tôi mới thấy ở anh một tâm hồn đa cảm, rất tình người và đậm tình quê hương. Với mơ ước là mở ra một con đường mới để đi tới, nhưng trên hành trình khai phá, ở những nơi chốn hoang vu xa lạ dù chỉ là hương đồng cỏ nội ven đường, đôi khi cũng để lại cho ta những dấu tích mà thời gian khó phai nhòa. Có thể đây là chất liệu bồi đắp thêm cho một tâm hồn, chỉ chờ cơn mưa nhỏ cũng đủ để cho dòng lũ thơ văn tuôn trào. Và đây chính là những đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang từ lúc còn ở quê nhà cho đến khi ra hải ngoại để giới thiệu với bạn đọc gồm có: Tuổi Hai Mươi (thơ 1969), Nén Hương Lòng (thơ 1993), Hương Xưa (thơ 1995) và tác phẩm thứ tư tôi vừa nhận được do tác giả ký tặng vào ngày 18.02.2014 được gởi từ Canada là tập thơ Mùa Thu Còn Đó, nhà thơ Thái Tú Hạp giới thiệu, xuất bản năm 2010, dày 100 trang, khổ 21x14 gồm 63 bài thơ với nhiều thể loại.



Hoàng Thị Như Loan

   Cầm tập thơ trên tay Mai và tôi vừa đọc vừa lau nước mắt với bài “Bàn Tay Em” và xem vài tấm hình chụp chung cả gia đình gồm hai vợ chồng cùng bốn đứa con, một hình bán thân của Như Loan và một tấm của Minh Ngọc rất là tươi trẻ với nụ cười:

Bàn tay hôm qua em còn cầm bút

Nay lại về chằm nón bài thơ

Bàn tay em cô gái văn khoa

Buông lững lờ trên chiếc nón

Tôi muốn cầm mà không dám

Cứ ngập ngừng khi muốn nói  'yêu em'.

   Rồi đã có lần đi trong mưa gió đứng bên hiên nhà, nắm lấy bàn tay em mà nghe hơi thở quyện trong cơn gió chiều, lòng rộn ràng như thuở mới biết yêu để nghe đời hạnh phúc:

Rồi ngày tháng trôi qua

Tôi rước em về nhà

Bằng rượu hồng pháo cưới

Tôi đứng bên mà lòng vui như hội

Em cô dâu mới đẹp tựa nàng tiên

Tôi bắt cầu kiều cho em ghé bước sang

Bây giờ chúng ta tuy hai mà một.

   Sau một chặng đường dài tha hương với bao thăng trầm nghiệt ngã, từ Sài Gòn đến Thốt Nốt, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá nhưng chàng vẫn mơ về một nơi chốn bình yên dù là một mái nhà tranh hay một túp lều nho nhỏ để con thơ được học hành và để hy vọng sau cơn mưa trời lại sáng. Nhưng cuộc đời đã không tha với ngọn roi đau gục ngã, chàng chết điếng người trước buổi chia ly:

Nhưng đời không tha ta

quất ta roi đau gục ngã

Anh chết điếng người khi biết em mắc bệnh nan y

Tình đôi ta có tội tình chi

Mà bắt phải chia lìa đôi ngã

Lòng tôi đau không còn tin gì nữa

Tin vào cuộc đời và tin cả nơi ta.

 

Ngày cuối cùng em sắp đi xa

Trong bệnh viện buồn một ngày chủ nhật

Anh ngồi bên em bàn tay em nắm chặt

Giọng em vẫn hiền hòa và vẫn thiết tha

Như thuở ban đầu mới gặp

Tôi cúi xuống gần em chút nữa

Để nghe tình ấm giữa cơn đau

Tôi cười với em

Ngăn dòng nước mắt tuôn tràn

Em choàng qua vai tôi xoa đầu nắn mũi

Em nói rằng em sẽ sống đến tuổi bảy mươi

Miệng em nói mắt em cười

Em vẫn đẹp như thời con gái

Em bảo: Anh cúi xuống cho em hôn một cái

Để đền bù ngày tháng anh nuôi em

Tôi cúi xuống vòng tay em mềm

Không ngờ đó nụ hôn cuối cùng, ly biệt.

Rồi cơn hôn mê đưa em về cõi khác

Khi Sài gòn còn giữa mưa khuya

Nước mắt trào dâng

Tình đã chia lìa

Thế là hết tôi mất một bàn tay ấm. 

(Long Thành, 1993)



Âu Thị Minh Ngọc

   Tôi nhìn hình của Như Loan và Minh Ngọc một lần nữa trước khi xếp tập thơ lại, rồi nhớ về thư của Hoàn gởi hơn một năm về trước:

Canada, 18.01.2013

   “Mình qua đây được 13 năm nhờ sự bảo lãnh của người bạn gái cũ quen nhau khi còn ở phi trường Đà Nẵng. Loan vợ mình mất năm 1993 vì bệnh để lại cho mình bốn đứa con. Cô này về kết hôn lại với mình và bảo lãnh năm cha con, cũng là thời còn may”. NPH

   Đúng là thời còn may. Tôi chưa từng hội ngộ với người phụ nữ trông mảnh mai đài các như đã thấy trong hình, nhưng sau tà áo mỏng manh kia là một trái tim độ lượng đã cứu một gia đình từ tình yêu và cả tình người, điều mà trong thế gian này chắc ít ai làm được như Minh Ngọc.


   Xin gởi đến Minh Ngọc & Phi Hoàn cùng các cháu lời chúc mừng hạnh phúc với lòng ngưỡng mộ về Một Người Vợ và Một Người Mẹ Tuyệt Vời đáng kính.

 

NGUYỄN SĨ LONG

Salzburg, 14.04.2014


*Nguồn: Trích "Kỷ Yếu 40 Năm Nhìn Lại" (1974-2014) của Nhóm Sinh Viên Việt, Đại học Luật khoa, Huế. Ấn bản tháng 6.2014. In ở Stuttgart, Đức.