Freitag, 16. Januar 2026

TÂM TÌNH GỞI BẠN*

Minh Ngọc - Phi Hoàn (Edmonton, Canada)


   Trong hai năm học đầu tiên ở trường Luật, Huế có lẽ Phạm Như Tân và tôi là gặp nhau thường xuyên nhất vì nhà hai đứa chỉ cách nhau cống Vĩnh Lợi trong Thành Nội. Nhà Tân có vườn rộng, hồ cá kiểng, nhiều loại hoa, cây trái và hai hàng chè tàu thẳng tắp từ ngõ vào cho đến tận bên trong sân vườn. Thỉnh thoảng ghé Tân chơi vào buổi tối, hai đứa thường ngồi trước sân chuyện trò và hút thuốc, đôi khi đến khuya mới về nhà. Không những chơi thân với Tân và Thảo (những lúc ba đứa vào trong đại nội học thi), tôi còn được gia đình ba mẹ Tân và các em rất quý mến nên coi như anh em trong nhà vì vậy tôi rất tự nhiên mỗi khi đến chơi.

   Theo như thầy Trần Thiện Tú coi chỉ tay thì số tôi nhiều may mắn ngoài trường đời hơn tình duyên, bởi vậy so với Tân  thì sau năm 1975 cuộc sống của tôi ở Sài gòn dễ chịu hơn rất nhiều khi Tân đang trong thời gian học tập cải tạo. Có lẽ Tân thấy trước ngày về xa xôi, tương lai mờ mịt, người yêu bới xách thăm nuôi tội nghiệp quá nên đã khuyên Thảo 'thôi hãy quên anh' để nghĩ đến tương lai mình. Nhưng rồi phong ba bão táp cũng qua, lễ thành hôn đã được tổ chức, hai hạt giống ra đời và cho đến nay cháu Huy đã lập gia đình nhưng còn ham chơi (lời của Tân & Thảo) chưa chịu sinh con cho ông bà nội có cháu để bồng, chờ hoài cũng thấy nóng ruột trong khi bạn bè cùng lứa xa cũng như gần đều đã lên chức ông bà nội ngoại lâu lắm rồi.

   Sau khi được ra trại cuộc đời của Tân mới bắt đầu vất vả ngược xuôi kiếm sống suốt mười mấy năm trời, sức khỏe yếu dần, bệnh tật hoành hành tưởng chừng đã ra đi nếu không kịp bước lên được chuyến bay định mệnh để sang Hoa Kỳ vào năm 1993. Qua mấy lần điện thoại thăm hỏi và Email gần nhất cách đây mấy tháng Tân cho biết đã giải phẩu 6 lần chỉ riêng cho hai quả thận và hiện nay đang điều trị đau bao tử.

    Sau Tân thì số bạn bè trên đường đi học còn có Tấn ở cửa Đông Ba là thường có ghé ngang mỗi tuần. Còn Hoa ở Lương Y, Tâm ở đường Hồ Xuân Hương và Tú ở Cửa Trài đều là những địa chỉ quen thuộc để họp bạn; nhưng khi Liêm vào Sài gòn, Tấn vào lính thì cả Tình cũng mất hút, hiếm khi có dịp đi uống café với người bạn thi sĩ này. 



Tình-Tấn-Long-Nuôi-Hoa (Huế, 2015)

   Ngoài ra có hai người bạn ít gặp nhất là Nguyễn Văn Nuôi và Nguyễn Phi Hoàn. Nuôi ngoài chuyện học còn bận rộn với công viêc và nghề tay trái là sửa đồng hồ, Hoàn thì ở trong Đại học xá Nam Giao nên ngược đường vì vậy chỉ gặp nhau trong giờ học và vài lần họp Nhóm mà thôi. 

   Sau mùa hè 1972 phải chờ cho đến khi Tấn và Hoàn vào Thủ Đức, tốt nghiệp xong rồi về nhận nhiệm sở cùng một binh chủng ở phi trường Đà Nẵng, xa xôi cách trở vậy mà tôi lại có duyên gặp lại hai bạn rất nhiều lần. Số là tôi có người dượng (chồng cô ruột) là quân cảnh, được cấp nhà ở trong phi trường, đặc biệt nhà thuộc dạng trại lính nhưng có máy lạnh, điều mà tôi thích nhất là mỗi đêm lên giường luôn có cảm giác sự ấm áp nhẹ nhàng giữa mát và lạnh nên có giấc ngủ rất ngon. Chính trong những chuyến vào Đà Nẵng nên mới gặp lại Tấn và Hoàn và qua đó đã được nghe Hoàn kể chuyện về những ngày phép vui chơi ở Sài Gòn.

   Cũng trong thời gian này có một lần Tấn dẫn tôi đến thăm nhà một người chị của Tấn tên là Đông Hải, rất trẻ chừng 25 tuổi, chồng chết trận, có một con trai hai hoặc ba tuổi. Tình cảm đến rất nhanh nên sau đó tôi có đến thăm Đông Hải vào một buổi chiều tối và một ngày chở nhau trên chiếc Yamaha ra biển Sơn Trà ngồi uống cà phê tâm sự đến khoảng hai giờ chiều mới về, cũng là lần sau cùng gặp Đông Hải vì hình như tôi không còn dịp vào Đà Nẵng nữa. Đây chỉ là một chuyện tình ngắn ngủi nhưng nay nhắc lại cũng thấy tội cho Đông Hải đã sớm là góa phụ khi còn rất trẻ, rồi lúc quen với người con trai xứ Huế thì cũng chẳng đi đến đâu và sau đó không biết cuộc đời Đông Hải mấy chục năm qua đỗ ở bến nào?   

   Nói đến Đông Hải mà không nhắc đến Võ Thị Phương thì có thể làm cho Tấn buồn lòng vì Phương là em của bạn gái Tấn. Chính nhờ ông cò Tấn đưa lối dẫn đường mà trong lần Ban Tư Pháp trường Luật Huế vào tòa án Đà Nẵng thực tập tôi có dẫn Phương đi theo vào dự phiên tòa từ sáng cho đến chiều. Sau nầy Phương có ra Huế chơi một lần, và cũng như Đông Hải, Phương và tôi mất dần liên lạc có lẽ do xa xôi cách trở mà ra.

   Tôi và Tấn có vài kỷ niệm ở Đà Nẵng trong một thời gian ngắn nên rồi cũng phôi pha theo tháng năm, nhưng Hoàn mới là người nhìn xa trông rộng, chàng ta đã đổ bê tông căn nhà tương lai trước mấy chục năm, để rồi một lần nữa lên xe hoa để sang tận Canada mà chúng ta đều biết về một câu chuyện tình thật đẹp mà cuộc đời của nhân vật chính vô cùng hấp dẫn, có thể in thành sách, dựng thành phim để được cùng chia sẻ niềm hạnh phúc với bạn bè.

   Nhưng rồi cuộc đời đâu ai học được chữ ngờ. Sau 1975 trong lúc các bạn có những ngày mang áo lính được vào khu an dưỡng nghỉ ngơi, thì ngoài đời những người bạn khác lại bôn ba vất vả vì miếng cơm manh áo, và sau nữa là tìm người bạn đời để gởi tấm thân vừa đến độ trưởng thành. Một trong những người bạn đã lên xe hoa sớm nhất là Nguyễn Đức Tâm vào mùa hè 1972 vừa đúng 20 tuổi (người viết bài này tuổi hăm lăm mới sang ngang). Đối với những bạn khác rất tiếc là nhằm lúc vật đổi sao dời kẻ ở người đi nên không được tham dự một đám cưới nào nữa cho đến những năm sau này.



Gia đình Hoàn & Loan (Long Thành, Đồng Nai)

   Vì trong phần lý lịch các bạn không ghi năm lập gia đình nên chỉ biết Hoàn và tôi cưới vợ cùng năm 1977 để sau đó có một lần thật bất ngờ vào khoảng tháng 2 năm 1978 vợ chồng tôi gặp Hoàn và Như Loan ở Sài gòn khi được Tú dẫn đến thăm chúng tôi khi đang còn ở căn nhà trên Tân Việt. Lúc đó thì Như Loan đang có thai còn vợ chồng chúng tôi vừa thành hôn trong mùa Giáng sinh 1977. Đây là giai đoạn bắt đầu một cuộc phiêu lưu của đôi vợ chồng mới cưới ra đi tìm chân trời mới mà cho đến giữa năm 1987 (tức là mười năm sau) trước khi tôi đi vượt biên vẫn không biết tin Hoàn và Như Loan trong thời gian đó đang ở đâu để mãi cho đến khi bạn bè tìm được nhau cách đây hơn một năm và qua thưđầu tiên của Phi Hoàn thì mới biết cảnh đời của Đôi Bạn thật thương tâm khi Như Loan đã qua đời vào năm 1993, để lại một đàn con thơ dại trong nỗi đau thương, ngậm ngùi! 

   Từ khi được bạn bè giao cho công việc biên tập Kỷ Yếu; mỗi ngày, mỗi tuần tôi đều có niềm vui khi nhận được bài vở của các bạn gởi về và qua đó thật là thú vị với những khám phá mới về tài năng của mỗi người. Một trong những người bạn đó là Nguyễn Phi Hoàn, khi đọc qua những sáng tác tôi mới thấy ở anh một tâm hồn đa cảm, rất tình người và đậm tình quê hương. Với mơ ước là mở ra một con đường mới để đi tới nhưng đôi khi trên hành trình khai phá, ở những nơi chốn hoang vu xa lạ dù chỉ là hương đồng cỏ nội ven đường đôi khi cũng để lại cho ta những dấu tích mà thời gian khó phai nhòa. Có thể đây là chất liệu bồi đắp thêm cho một tâm hồn chỉ chờ cơn mưa nhỏ cũng đủ để cho dòng lũ thơ văn tuôn trào. Và đây chính là những đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang từ lúc còn ở quê nhà cho đến khi ra hải ngoại để giới thiệu với bạn đọc gồm có: Tuổi Hai Mươi (thơ 1969), Nén Hương Lòng (thơ 1993), Hương Xưa (thơ 1995) và tác phẩm thứ tư tôi vừa nhận được do tác giả ký tặng vào ngày 18.02.2014 được gởi từ Canada là tập thơ Mùa Thu Còn Đó, nhà thơ Thái Tú Hạp giới thiệu, xuất bản năm 2010, dày 100 trang, khổ 21x14 gồm 63 bài thơ với nhiều thể loại.



Hoàng Thị Như Loan

   Cầm tập thơ trên tay Mai và tôi vừa đọc vừa lau nước mắt với bài “Bàn Tay Em và xem vài tấm hình chụp chung cả gia đình gồm hai vợ chồng cùng bốn đứa con, một hình bán thân của Như Loan và một tấm của Minh Ngọc rất là tươi trẻ với nụ cười:


Bàn tay hôm qua em còn cầm bút

Nay lại về chằm nón bài thơ

Bàn tay em cô gái văn khoa

Buông lững lờ trên chiếc nón

Tôi muốn cầm mà không dám

Cứ ngập ngừng khi muốn nói ’yêu em’. 

  

   Rồi đã có lần đi trong mưa gió đứng bên hiên nhà, nắm lấy bàn tay em mà nghe hơi thở quyện trong cơn gió chiều, lòng rộn ràng như thuở mới biết yêu để nghe đời hạnh phúc:


Rồi ngày tháng trôi qua

Tôi rước em về nhà

Bằng rượu hồng pháo cưới

Tôi đứng bên mà lòng vui như hội

Em cô dâu mới đẹp tựa nàng tiên

Tôi bắt cầu kiều cho em ghé bước sang

Bây giờ chúng ta tuy hai mà một.


   Sau một chặng đường dài tha hương với bao thăng trầm nghiệt ngã, từ Sài Gòn đến Thốt Nốt, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá nhưng chàng vẫn mơ về một nơi chốn bình yên dù là một mái nhà tranh hay một túp lều nho nhỏ để con thơ được học hành và để hy vọng sau cơn mưa trời lại sáng. Nhưng cuộc đời đã không tha với ngọn roi đau gục ngã, chàng chết điếng người trước buổi chia ly:


Nhưng đời không tha ta

quất ta roi đau gục ngã

Anh chết điếng người khi biết em mắc bệnh nan y

Tình đôi ta có tội tình chi

Mà bắt phải chia lìa đôi ngã

Lòng tôi đau không còn tin gì nữa

Tin vào cuộc đời và tin cả nơi ta.

 

Ngày cuối cùng em sắp đi xa

Trong bệnh viện buồn một ngày chủ nhật

Anh ngồi bên em bàn tay em nắm chặt

Giọng em vẫn hiền hòa và vẫn thiết tha

Như thuở ban đầu mới gặp

Tôi cúi xuống gần em chút nữa

Để nghe tình ấm giữa cơn đau

Tôi cười với em

Ngăn dòng nước mắt tuôn tràn

Em choàng qua vai tôi xoa đầu nắn mũi

Em nói rằng em sẽ sống đến tuổi bảy mươi

Miệng em nói mắt em cười

Em vẫn đẹp như thời con gái

Em bảo: Anh cúi xuống cho em hôn một cái

Để đền bù ngày tháng anh nuôi em

Tôi cúi xuống vòng tay em mềm

Không ngờ đó nụ hôn cuối cùng, ly biệt.

Rồi cơn hôn mê đưa em về cõi khác

Khi Sài gòn còn giữa mưa khuya

Nước mắt trào dâng

Tình đã chia lìa

Thế là hết tôi mất một bàn tay ấm. 

(Long Thành, 1993)



Âu Thị Minh Ngọc

   Tôi nhìn hình của Như Loan và Minh Ngọc một lần nữa trước khi xếp tập thơ lại, rồi nhớ về thư của Hoàn gởi hơn một năm về trước:

   Canada, 18.01.2013:

   “Mình qua đây được 13 năm nhờ sự bảo lãnh của người bạn gái cũ quen nhau khi còn ở phi trường  Đà Nẵng. Loan vợ mình mất năm 1993 vì bệnh để lại cho mình bốn đứa con. Cô này về kết hôn lại với mình và bảo lãnh năm cha con, cũng là thời còn may”. NPH

Đúng là thời còn may. Tôi chưa từng hội ngộ với người phụ nữ trông mảnh mai đài các như đã thấy trong hình, nhưng sau tà áo mỏng manh kia là một trái tim độ lượng đã cứu một gia đình từ tình yêu và cả tình người, điều mà trong thế gian này chắc ít ai làm được như Minh Ngọc.

  Xin gởi đến Minh Ngọc & Phi Hoàn cùng các cháu lời chúc mừng hạnh phúc với lòng ngưỡng mộ về Một Người Vợ và Một Người Mẹ Tuyệt Vời đáng kính.

 

NGUYỄN SĨ LONG

Salzburg, 14.04.2014


*Nguồn: Trích "Kỷ Yếu 40 Năm Nhìn Lại" (1974-2014) của Nhóm Sinh Viên Việt, Đại học Luật khoa, Huế. Ấn bản tháng 6.2014. In ở Stuttgart, Đức. 

 

 

 

 

 

 


Donnerstag, 8. Januar 2026

CHIỀU XUÂN

 

Chiều xuân nghe gió qua vườn 

Nghe hoa mở hội thơm hương tặng đời 

Nghe lòng mình thoáng chơi vơi 

Người xa bỗng nhớ làn môi thuở nào

 

Chiều xuân tuyết đổ phương nao 

Trắng làn tóc đã thức bao đêm chờ 

Nhớ gì từ buổi ban sơ

Trăm năm còn ấm giấc mơ chưa nhòa

 

Đợi em về giữa mùa hoa 

Lụa hồng ươm nắng mượt mà thanh tân 

Trăng đêm ngủ muộn cuối tuần 

Đèn khuya thắp lại mấy vần thơ xuân.

 

NGUYỄN SĨ LONG

Mittwoch, 10. Dezember 2025

GÓP Ý


Thượng Tọa Thích Minh Tâm (Salzburg, 1998)

   Đây chỉ là một bài viết ngắn về những điều xảy ra đã lâu. Tôi sẽ đề cập đến hai cụm từ mà Thượng Tọa Trụ Trì chùa Pháp Tạng ở Wien thường hay dùng: Đó là Đạo Tràng và Kiều Bào.

I. ĐẠO TRÀNG LÀ GÌ? 

   Trong sinh hoạt hiện nay, Đạo tràng là nơi Phật tử họp mặt để thực hiện các việc có liên quan đến tu tập như tổ chức thuyết giảng và tham dự những ngày lễ trong năm, thường do một hoặc nhiều vị sư chỉ dạy. Đạo tràng cũng là khái niệm thường được dùng để chỉ nơi gặp gỡ của những người con Phật có cùng ý nguyện, bất cứ nơi nào dùng để tu hành đều được gọi là Đạo Tràng.


TT Minh Tâm và Ban Chấp Hành Hội VHXH PTVN tại Áo (Wien, 1987)

   Ở thủ đô Wien, Áo sau nhiều năm “tìm thầy học đạo”, nhờ sự cố vấn của Thượng Tọa Thích Minh Tâm (Chùa Khánh Anh, Pháp), một số anh chị Phật tử có tâm ở Wien đã tập hợp được một Nhóm Người Việt nên đã hình thành được Ban Chấp Hành Lâm Thời vào năm 1986. Một năm sau đó Thượng Tọa Thích Minh Tâm đã trở lại Áo chứng minh Đại lễ Vu Lan, PL 2531 đồng thời công bố Hội Phật tử ở Áo nay đã chính thức thành lập với tên gọi “Hội Văn Hóa Xã hội Phật tử Việt Nam tại Áo” với một Ban Chấp Hành, Hội trưởng là Tiến sĩ Tạ Anh Tuấn cùng Bản Điều Lệ ngày 04.10.1987. Đây cũng là Đạo Tràng đầu tiên ở Áo và sau này có thêm hai thành phố đã trở thành Đạo Tràng khi Thầy Thích Minh Tâm đến Salzburg chứng minh Đại lễ Vu Lan, PL. 2538 vào ngày 26.08.1994 và ở thành phố Linz trong Lễ Đầu Xuân 28.02.1998.

   Đến năm 2010 Đại Đức Thích Viên Duy được bổ sứ sang Áo. Năm 2016 BCH Hội mua được căn nhà hai tầng 316m2 trên đường Seybelgasse ở quận 23, Wien. Sau một thời gian tu sửa, vào năm 2017 căn nhà đã trở thành Ngôi Chùa Mới với tên gọi là Chùa Pháp Tạng. Vậy là “Đạo Tràng Wien” không còn nữa, thay vào đó là Chùa Pháp Tạng ở Wien và hai Đạo Tràng Linz & Salzburg nằm ở phía tây nước Áo, cách thủ đô  Wien 300 km.

   Tôi còn lưu giữ khá nhiều Thư Mời của các ngôi chùa danh tiếng ở Âu Châu như Chùa Khánh Anh (Pháp), Chùa Viên Giác (Đức), Chùa Khuông Việt (Na Uy) nhưng chưa bao giờ thấy tên của ba ngôi chùa này ghi: Đạo Tràng Chùa Khánh Anh, Đạo Tràng Chùa Viên Giác, Đạo Tràng Chùa Khuông Việt…như Thầy Trụ Trì chùa Pháp Tạng ở Áo đã có thói quen viết “Đạo Tràng Chùa Pháp Tạng” thường đăng trên mạng xã hội.

II. VIỆT KIỀU & KIỀU BÀO LÀ AI?

   Việt Kiều (người Việt Nam sống ở nước ngoài) là từ để chỉ những người Việt định cư bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, họ có thể đang mang quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch của nước sở tại. Cũng như từ Việt Kiều, người Việt sống tại Việt Nam cũng thường dùng từ Kiều Bào để gọi những người Việt đang sống, làm việc ở nước ngoài, chứ không phải dành cho những người Việt sống ở nước ngoài gọi chính họ.

   Vì vậy, với một sự kiện như Đêm Văn Nghệ Xuân của Hội Văn hóa Xã hội Phật tử Việt Nam được tổ chức hàng năm ở Wien mà Thầy Trụ Trì cất tiếng kêu gọi Kiều Bào Đồng Hương ở Áo và các nước láng giềng ủng hộ là không đúng, nên ghi nhận để sửa sai.

III. THAY TÊN ĐỔI HỌ


   Bất cứ ở đâu, dù mình là ai thì cũng nên tôn trọng Danh Xưng của một tổ chức, đoàn thể hay một Ngôi Chùa đã được đăng ký hoạt động ở một quốc gia tự do như Áo, là không được phép đổi tên (dù chỉ là một nét chữ) như Hội Phật Tử ở Áo nguyên văn là: HỘI VĂN HÓA XÃ HỘI PHẬT TỬ VIỆT NAM TẠI ÁO, đã viết thành: HỘI VĂN HÓA XÃ HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI ÁO trên các Thư Mời ký tên Thích VD từ năm 2010, là năm Thầy được bổ sứ sang Áo cho tới bây giờ đã được 15 năm.

   Thêm một lời Góp Ý nữa là hiện nay lớp trẻ trong cộng đồng Người Việt sinh ra và lớn lên được ăn học và giỏi ngôn ngữ ở nước sở tại hơn cả tiếng Việt là điều tất nhiên. Do đó, trong một Thư Mời ngắn gọn đến tham dự một buổi lễ ở Chùa của Thầy Trụ Trì mà đệm nhiều chữ Hán thì không chỉ lớp Phật tử trẻ mà chính người lớn cũng ít hiểu nên chẳng cần thiết, trong lúc tiếng Việt rất phong phú tại sao không dùng? 

   Tôi đã đọc nhiều Thư Mời của chùa Khánh Anh, chùa Viên Giác từ mấy chục năm nay nhưng chưa hề thấy một tiếng Hoa nào xen lẫn trong các văn bản. Vì vậy không nên quá phô trương bởi chính người viết Thư Mời cũng chưa rành tiếng Việt thì phải khen con cháu chúng ta sống trên xứ người nói và hiểu được tiếng Mẹ Đẻ là quá giỏi.

TUỆ LAM (Wien, 10.12.2025)

Samstag, 29. November 2025

BƯỚM LẠ

Ảnh: Internet 


Hôm nay trời thật lạ

Nắng hồng ửng làn da

Một đàn chim ríu rít

Reo vui trước sân nhà

 

Mẹ ngồi bên mái hiên

Xõa suối tóc dịu hiền

Ngắm trời trong mát dịu

Nở nụ cười tự nhiên

 

Em đứng gần bên mẹ

Nhìn đàn chim say mê

Nín từng hơi em thở

Sợ chim bay không về

 

Rừng hoa xinh lạ thường

Tím đỏ hồng dễ thương

Hoa vàng vừa chớm nở

Một đôi bướm qua vườn

 

Em sao lắm bồi hồi

Chân nhón vài bước thôi

Chừng đưa tay thật khẽ

Ô hay bướm bay rồi!

 

Trông cánh bướm đang bay

Nhẹ nhàng như bóng mây

Ngang qua trời êm ả

Hạnh phúc em tràn đầy

 

Bướm bay rồi trở lại

Đậu giữa vườn ban mai

Lòng em nay vui thế

Thì ra xuân đã về!

 

NGUYỄN SĨ LONG

 

Freitag, 31. Oktober 2025

NẰM VIỆN

Trại Thalham - tháng 1.1989

Nhập viện & hồi tưởng

  Sau những ngày rong chơi và tham dự Đại lễ Vu Lan tại Tổ đình Viên Giác Hannover, tôi quay về trú xứ, rồi khăn gói vào bệnh viện. Dù việc “nằm viện” đã có kế hoạch từ trước, nhưng khi thật sự đặt lưng trên chiếc giường trải khăn trắng tinh ở Barmherzige Brüder Krankenhaus Wien, lòng vẫn thấy bâng khuâng và có phần lo lắng, dù rất tin tưởng vào tay nghề bác sĩ nơi thành phố này.

  Nằm trên giường bệnh, tôi nhớ lại buổi đầu đặt chân đến Wien vào tháng 12 năm 1988, một thuyền nhân tỵ nạn giữa mùa đông lạnh buốt. Năm người chúng tôi được đưa về trại Thalham ở Sankt Georgen im Attergau, trung tâm tiếp nhận người tỵ nạn cách Salzburg chừng 50 km. Khi đến nơi, nhóm mười người  gồm cả những đồng hương từ Palawan, Philippines, đón nhau bằng một bữa cơm thân tình, ấm áp, khiến bao mệt mỏi và giá lạnh đường xa chừng tan biến.


Trại Thalham - tháng 1.1989

  Sau hai ngày nghỉ, chúng tôi được làm thủ tục cư trú. Cuộc sống trại tuy đơn sơ nhưng ấm áp tình người, ai cũng mong sớm rời trại để tìm việc làm. Trong thời gian học tiếng Đức, tôi phát hiện mắt trái có vấn đề. Hoàn cảnh lúc ấy thật khó khăn, không người thân, không bảo hiểm, không biết phải làm sao. May thay, vào giữa tháng 3 năm 1989, tôi gặp lại anh Vũ Văn Hùng, người đồng hương ở Linz đến thăm. Anh đưa tôi đi chơi Salzburg rồi về Linz xin việc tại một hãng nhựa nhỏ, trong khi tôi vẫn chờ kết quả khám mắt ở bệnh viện Vöcklabruck.

  Hồi đó, kiếm việc khá dễ, nhất là lao động tay chân. Tôi được nhận thử việc ở hãng S. Plastics tại Linz, bắt đầu từ ngày 3 tháng 4.1989. Cùng làm với tôi có Hóa, một người bạn trẻ ở cùng anh Hùng. Công việc tuy không quá nặng nhưng rất nhanh và đơn điệu: đứng lên cúi xuống liên tục, nhặt từng bao nylon rồi ném vào máy ép. Cô chủ người Áo ít nói, thỉnh thoảng đến xem qua. Chỉ sau vài ngày toàn thân ê ẩm, tưởng không trụ nổi. Sang tuần thứ hai, khi kiệt sức đến mức chỉ mong có lý do để nghỉ, thì cô chủ thông báo “hết hàng, tạm ngưng làm việc”. Tôi mừng như được cứu sống lần nữa, y như ngày được tàu Cap Anamur vớt trên Biển Đông hai năm trước, tháng 6 năm 1987.

  Tôi quay về bệnh viện Vöcklabruck xin điều trị mắt. Lần này tôi bình tĩnh hơn, hiểu rằng “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, có sức khỏe mới có tương lai. Tôi nhớ đến vị giáo sư dạy tiếng Đức ở trại, người đã tận tình giúp tôi khám mắt. Khi nghe tôi nói “Mắt trái con nhìn mờ lắm”, thầy liền thử bằng cách che từng mắt, rồi hẹn hôm sau đưa đi tiệm kính. Kết quả kiểm tra khiến cả hai thầy trò đều bất ngờ: tôi cần vào bệnh viện điều trị. Sau hai lần khám, tôi nhập viện, nhưng chưa kịp chữa xong đã phải xin ra sớm để đi làm. Bác sĩ hiền từ chỉ dặn: “Anh có thể trở lại bất cứ lúc nào.” Chính sự nhân hậu ấy khiến tôi thấy ấm lòng giữa xứ lạ.

  Khi trở lại nằm viện, nhiều nhân viên y tế đã quen mặt, hỏi han thân tình. Tôi ở phòng sáu giường, là người trẻ nhất. Thời ấy, một người gốc Á đến điều trị ở vùng thị trấn còn hiếm, nhất là người tỵ nạn, nên được chú ý và thương mến. Ông Peter nằm cạnh giường, khi ra viện tặng tôi chiếc áo Blazer, chúc tôi sớm bình phục. Tôi biết ơn với những con người xa lạ mà đầy nghĩa tình.

  Mười ngày điều trị, ngày nào cũng truyền dịch, uống thuốc, chiếu điện cho mắt. Các y tá phục vụ chu đáo, đúng với tinh thần “lương y như từ mẫu”, bất kể bệnh nhân là ai. Tuy an tâm, nhưng trong lòng vẫn canh cánh nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con còn bên kia đại dương. Tôi hiểu rằng con đường đoàn tụ vẫn còn xa. Bởi thế, khi được xuất viện và nghe tin mắt đã bình phục, niềm vui như ngập tràn. Tháng 5 năm 1989, tôi lại theo anh Hùng về Salzburg, tái ngộ những người bạn cũ Palawan. Chúng tôi thuê chung một căn nhà nhỏ ở Lehen, gần trung tâm thành phố, khởi đầu cho một chặng đời mới nơi xứ người. 

Những năm đầu nơi xứ người

  Sau những ngày ở Lehen, tôi bắt đầu cảm nhận rõ cuộc sống mới ở châu Âu. Chỉ ít lâu sau, tôi tìm được việc tại hãng Mirabell Schokolade Grödig, nơi làm những viên sô-cô-la nổi tiếng ở Salzburg. Đó là công việc ổn định đầu tiên, mang lại niềm vui và hy vọng. Đến cuối năm, thật bất ngờ khi tôi nhận được thư thông báo được cấp một căn hộ độc thân rộng 23 m² của Bộ Nội Vụ, nhận nhà vào tháng 2 năm 1990 ở khu Liefering, Salzburg. Một căn phòng nhỏ nhưng với tôi, đó là cả một khởi đầu vững chắc.

  Sau mười bốn tháng định cư, tôi đủ điều kiện làm hồ sơ bảo lãnh gia đình. Có việc làm, có nhà ở, tôi gửi toàn bộ hồ sơ đến Đại sứ quán Áo tại Jakarta. Diện bảo lãnh vợ con được ưu tiên, không mất phí nào khác. Tháng 2 năm 1991, sau gần bốn năm xa cách, tôi trở lại Wien để đón vợ và hai con gái: chị, Chân Như 12 tuổi; em, Kiều Nam 8 tuổi. Cuộc đoàn tụ ấy là khoảnh khắc không bao giờ quênnước mắt xen nụ cười, hạnh phúc ngập tràn sau bao năm chờ đợi tưởng như vô tận.

  Những năm đầu đoàn tụ thật bận rộn. Hai con vào trường học, vợ chồng cùng đi làm. Cuộc sống dần ổn định, nhưng tôi vẫn thường nghĩ đến sức khỏe, nhất là đôi mắt, từng hai lần điều trị ở Vöcklabruck. Tôi đi kiểm tra định kỳ mỗi hai năm, kết quả vẫn tốt. Niềm tin vào y học Áo ngày càng lớn dần trong tôi, một người từng đi qua những ngày gian nan của thân phận tị nạn.


Landeskrankenhaus Salzburg

Thời gian trôi nhanh. Năm 2001, tức mười năm sau ngày đoàn tụ, tôi phải trải qua ca phẫu thuật đầu tiên ở đầu gối phải do rách sụn chêm, một chấn thương phổ biến khi khớp gối xoay đột ngột. Ca mổ tại bệnh viện Landeskrankenhaus Salzburg diễn ra suôn sẻ, tôi ở lại ba ngày rồi xuất viện. Đến nay đã hơn hai mươi năm, đầu gối ấy vẫn tốt, mỗi lần nghĩ lại, tôi vẫn thấy biết ơn nền y tế nước này.

  Con người có hai con mắt sinh ra cùng lúc, một khi mắt trái đã từng bị, thì sớm muộn cũng đến lượt mắt phải. Năm 2012, khi tôi bước sang tuổi 60, con mắt bên phải lại mờ dần. Bác sĩ cho biết đó là bệnh “đục thủy tinh thể”, như tấm kính bị phủ bụi, cần thay thủy tinh thể nhân tạo. Ca phẫu thuật diễn ra tại bệnh viện LKH Salzburg, nhẹ nhàng và nhanh chóng: chỉ một đêm nằm viện, sáng hôm sau đã về nhà. Từ đó tôi chỉ mang kính khi đọc sách. Nhưng rồi, như mọi thứ trong đời, thời gian không dừng lại, tuổi già lại gõ cửa.

  Tháng 8 năm 2018, con mắt trái từng hai lần điều trị cách đây ba mươi năm bắt đầu yếu đi. Tôi lại vào bệnh viện, thực hiện lần phẫu thuật thứ ba trong đời, cũng an toàn và thành công. Dù trải qua bao lần mổ xẻ, tôi chưa bao giờ thấy sợ. Có lẽ vì tôi tin vào sự tử tế, tận tâm của những y bác sĩ nơi đây, và tin vào nhân duyên đã đưa mình đến vùng đất này.

  Cuộc sống ở Salzburg bình yên, đều đặn. Mỗi sáng đi làm, chiều về nghe tiếng chuông nhà thờ, ngắm dãy núi tuyết xa xa, lòng tôi thường dâng lên niềm tri ân sâu sắc. Một người từng lênh đênh trên biển, từng vô định giữa trại tị nạn, nay được sống, làm việc và nuôi con nơi bình an, đó là phước đức lớn mà tôi luôn ghi nhớ.

  Năm 2019, sau hơn ba mươi năm ở Salzburg, gia đình tôi dọn về Wien. Cuộc sống nơi thủ đô năng động hơn, nhiều cơ hội hơn cho các con, nhưng với tôi, vẫn là những ngày thong thả, bình yên. Tôi thấy mình như một chiếc lá già, theo dòng thời gian trôi về cuối thu, nhưng lòng nhẹ nhõm vì đã đi qua hầu hết sóng gió đời người. 

Gia đình đoàn tụ & những năm gần đây

  Từ ngày dọn về Wien năm 2019, tôi cảm nhận rõ sự thay đổi trong nhịp sống. Thủ đô rộng lớn, đông đúc, nhưng vẫn giữ nét thanh bình của một thành phố Âu châu giàu văn hóa và kỷ cương. Chúng tôi quen dần với cuộc sống mới, trong khi sức khỏe tôi bắt đầu có dấu hiệu báo động.

  Bệnh thoát vị bẹn (Leistenbruch) được phát hiện từ hơn mười năm trước ở Salzburg. Khi ấy, bác sĩ dặn chỉ cần theo dõi định kỳ vì khối u còn nhỏ và chưa gây trở ngại. Tôi vẫn sinh hoạt bình thường, đi bộ, làm việc nhẹ. Nhưng sau nhiều năm, vết sưng ngày càng lớn. Tháng 10 năm 2023, tôi đến khám bác sĩ Rawand Kawji ở quận 23, kết quả vẫn là “chưa cần phẫu thuật”. Dù an tâm phần nào, tôi tự biết rồi cũng đến lúc phải làm.


Apotheke der Barmherzigen Brüder 

  Mùa hè năm 2025, các con bàn nhau chủ động hẹn lịch mổ. Con gái lớn của tôi, Chân Như, làm Dược sĩ tại bệnh viện Barmherzige Brüder trên đường Taborstrasse, Wien. Con tốt nghiệp đại học Dược ở Wien năm 2018 sau bao năm vừa học vừa nuôi con nhỏ. Tôi vẫn nhớ ngày nhận bằng, gương mặt con sáng bừng niềm hạnh phúc. Giờ đây, chính nơi con làm việc lại là nơi tôi điều trị, như một vòng nhân duyên trọn vẹn.


Bệnh viện Barmherzige Brüder

  Tháng 7 năm 2025, tôi được bác sĩ Birsan Tudor khám và sắp lịch phẫu thuật vào đầu tháng 10. Những tuần chuẩn bị trôi qua êm đềm. Tôi đã quen với những cuộc nằm viện, nhưng lần này đặc biệt hơn, vì có vợ và các con bên cạnh trong mỗi bước.


Kiều Nam - Chân Như - Alain 

  Trước đó,  tháng 9 năm 2025, cậu con trai Alain đã đi theo đến phòng mạch bác sĩ khám nghiệm tiền giải phẫu như đo điện tâm đồ, khám tiểu phẫu…Ngày 1 tháng 10, con gái lớn Chân Như và mẹ Sương Mai đưa tôi nhập viện.

  Sáng 2 tháng 10 năm 2025, khoảng 7:35 giờ nhân viên vận chuyển bệnh nhân đã có mặt. Ngay khi họ vừa xác định tên tuổi năm sinh cũng là lúc Kiều Nam, con gái thứ hai đến để theo xe đưa ba đến phòng mổ và nói: Ba yên tâm có mẹ cùng các con chờ bên ngoài.”

  Trong phòng mổ, khi bác sĩ gây mê giới thiệu tên mình, tôi mỉm cười đáp lại rồi chìm ngay vào giấc ngủ. Khi mở mắt ra, đồng hồ chỉ 10 giờ 5 phút, ca mổ đã hoàn tất. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm, vết thương đau nhẹ nhưng tinh thần rất tỉnh táo. Chiều hôm đó, vợ và ba con vào thăm, thấy tôi khỏe mạnh, ai cũng mừng.

  Bác sĩ chọn phương pháp phẫu thuật nội soi hiện đại, ít xâm lấn, nhanh hồi phục. Tôi ở lại thêm một ngày, rồi được xuất viện sáng 3 tháng 10. Chân Như xin nghỉ làm một ngày để đưa tôi về nhà. Bầu trời Wien hôm ấy trong xanh lạ thường. Tôi ngồi trong xe, nhìn ra phố, lòng nhẹ như vừa bỏ xuống một gánh nặng vô hình mang theo suốt bao năm.

  Trong đời, tôi đã bốn lần trải qua phẫu thuật: hai lần mắt, một lần đầu gối, một lần thoát vị. Mỗi lần như một dấu mốc, không chỉ của sức khỏe mà còn của lòng biết ơn. Suốt ba mươi bảy năm sống ở Áo, tôi chưa bao giờ phải trả một đồng viện phí. Mọi thứ được chăm lo chu đáo, từ thuốc men đến phòng ở, thái độ phục vụ. Sự tận tâm và chuyên nghiệp của y tá, bác sĩ khiến tôi khâm phục và xúc động. Ở đây, con người được chăm sóc với lòng nhân ái hơn là thủ tục. Cũng không hề có các bao thư lớn nhỏ! Điều còn lại lớn nhất trong tôi là niềm biết ơn. Ơn đời, ơn người. 

Chiêm nghiệm về Bốn ân nặng

  Sau ca phẫu thuật vừa rồi, tôi cảm nhận một niềm hạnh phúc thật trọn vẹn. Mỗi sáng thức dậy trong căn nhà ở Wien, tôi nhìn ra khu vườn có ánh nắng chiếu lên những mái nhà cổ.Tiếng chuông nhà thờ vang lên nhẹ, lòng tôi chợt thấy thanh thản. Có những điều trong đời, chỉ khi đi qua hết các thăng trầm, con người mới hiểu được giá trị của một sự bình yên.

  Từ ngày đặt chân đến nước Áo, tôi đã qua đầy đủ các trải nghiệm trong cuộc đời: lo âu, sợ hãi, kiên nhẫn, hy vọng, nghĩa tình. Từ một người tỵ nạn tay trắng đến kẻ nhập viện bốn lần trong gần bốn thập kỷ, tôi luôn được nâng đỡ bởi lòng tử tế của con người và ân sủng của cuộc đời. Mỗi biến cố, mỗi lần vào bệnh viện đều để lại trong tôi một bài học về lòng biết ơn.

  Có lúc tôi tự hỏi: “Nếu năm xưa con tàu Cap Anamur không kịp vớt tôi giữa Biển Đông, giờ này mình ở đâu?” Câu hỏi ấy theo tôi suốt đời, để mỗi khi gặp người lạ mỉm cười chào hay bác sĩ nhẹ nhàng hỏi han, tôi lại thấy một phần ân nghĩa sâu xa đang tiếp tục được trao truyền.

  Ba mươi bảy năm sống nơi đất khách, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Từ những ngày đầu ở trại Thalham lạnh giá, đến những ca mổ ở Salzburg và Wien, tôi luôn nhận được sự quan tâm chân thành. Người Áo, với vẻ trầm lặng và kỷ luật, nhưng trong lòng lại ấm áp. Họ không nói nhiều, nhưng hành động của họ khiến tôi thấy rõ: Ở đâu có nhân từ, ở đó có quê hương.

  Những năm gần đây, tôi không còn làm việc nữa. Thời gian dành cho sách vở, viết lách; hay cho thiền định, tu tập và những buổi dạo bộ quanh công viên hoặc những con phố vắng. Con cái đã trưởng thành, có gia đình, có sự nghiệp. Nhìn chúng đi trên con đường riêng, tôi hiểu rằng mọi nhọc nhằn ngày trước của hai vợ chồng chúng tôi đều xứng đáng, đều trân trọng. Vợ chồng chúng tôi luôn luôn nhắc nhở nhau: Hạnh phúc không nằm ở vật chất, mà ở chỗ ta biết đủ, biết dừng, và biết tri ân.

  Tôi nghiệm lại lời đức Phật dạy về “Tứ trọng ân”, bốn ân nghĩa sâu dày mà con người cần ghi nhớ: Ân cha mẹ, Ân Tam Bảo, Ân đất nước, và Ân chúng sinh.

  Mỗi khi nghĩ đến, tôi đều thấy bốn ân ấy hiện hữu trong mình. Cha mẹ tạo nên hình hài, Thầy tổ chỉ dạy nên người, quê hương Việt Nam nuôi dưỡng và đất nước Áo cưu mang, cùng bao nhiêu người trên đời này từng giúp đỡ mình. Từ vị giáo sư dạy tiếng Đức ở Thalham, đến ông bà Peter trong bệnh viện Vöcklabruck, từ những bác sĩ, y tá tận tâm đến bạn bè đồng hương trên đất khách. Tất cả họ là những nhân duyên đẹp góp phần làm nên cuộc sống gia đình chúng tôi hôm nay. Ở tuổi này, tôi hiểu rằng mỗi buổi sáng còn được mở mắt, còn nghe tiếng chim, còn nếm được hương vị tách cà phê sớm, đã là một món quà vô giá.

  Vienna, thành phố của tình yêu và âm nhạc, của Mozart, Beethoven…của những mùa thu vàng rực, giờ đây với tôi là mái ấm cuối đời. Tôi biết ơn đất nước này, biết ơn cả những gian truân đã giúp mình trưởng thành, biết ơn người bạn đời Sương Mai đã cùng tôi đồng cam cộng khổ nắm tay nhau bước đi qua mọi ngõ ngách của cuộc đời gần 50 năm nay, nửa thế kỷ. Chỉ khi từng bước qua những nhọc nhằn và khổ đau, con người mới học được cách trân trọng từng giây phút của hiện tại.  

  Và tôi tin rằng, mọi người dù ở đâu, cũng đều mong ước được hai điều này: Sức khỏe và An lạc. Chỉ mấy tuần trước đây thôi, tôi nằm trên giường bệnh chờ ca mổ. Tôi cũng đã từng sợ hãi, từng cô đơn, nhưng cũng từng được chăm sóc, được thương, được cứu sống. Và chính từ những trải nghiệm đó, tôi nhận ra rằng: Sống, dù chỉ một ngày trong tỉnh thức và thương yêu, cũng thỏa mãn cho nhân duyên một kiếp người.

 

NGUYỄN SĨ LONG

Wien, 27.10.2025