Montag, 11. Mai 2026

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHỤNG SỰ

Thiền sư Thích Nhất Hạnh 

 

   Nhân chuyến sang thành phố Salzburg giảng Thiền cho người Áo của Thầy Thích Nhất Hạnh vào tháng 11 năm 1994, làm tôi nhớ lại khi còn ở quê nhà đã có một thời gian là cộng tác viên của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH). 

   Lúc đó Thầy đang ở nước ngoài, tôi thì được Trường tuyển dụng vào làm việc ở Văn Phòng Điều Hành (VPĐH) số 380 A đường Công Lý, Sài Gòn mà không qua một lớp đào tạo nào như các khóa đàn anh đàn chị đi trước, đúng vào thời điểm chiến sự từ Cao Nguyên cho đến Miền Trung sôi động vào tháng 3.1975.

   Ngày 11.03.1975 tôi được chính thức nhận việc và trở thành một tác viên của Trường dù sự hiểu biết về tổ chức rất hạn chế cũng như những công việc sắp tới hợp với khả năng mình hay không thì tôi cũng có ít nhiều lo lắng.

  Hôm đến trình diện tôi được gặp Đại Đức Thích Từ Mẫn, thầy là Giám đốc Điều hành, sau những lời thăm hỏi và giới thiệu về cơ cấu tổ chức cũng như đội ngũ nhân viên chỉ riêng ở văn phòng, thầy có hỏi tôi là: -Con vào làm việc với Trường thì có ảnh hưởng gì đến việc học hay không?

   Thầy nói nhỏ nhẹ và thân thiện làm lòng tôi tiêu tan những lo âu đến nỗi cả đêm thao thức khó ngủ vì đây là lần đầu trong đời đi tìm việc làm, trước là để nhẹ gánh cho gia đình và sau nữa là thân tự lập thân.

Là một sinh viên Luật vừa ra trường vào mùa hè năm 1974, tôi cũng như những bạn đồng khóa khác rời gia đình và bè bạn vào những ngày đầu trở lạnh của mùa đông xứ Huế năm đó để vào Sài Gòn ghi danh bậc cao học ở trường Đại học Luật Khoa Sài Gòn và đồng thời ở trường Đại học Vạn Hạnh để lấy hoãn dịch học vấn. Có hai bạn thi đậu vào Sở Điện lực Sài Gòn và những bạn khác có người tập sự luật sư ở Huế, Đà Nẵng hay Nha Trang...

   Thời khóa biểu ở trường Vạn Hạnh cho các lớp bậc cao học được xếp vào buổi chiều cho nên tôi có nhiều thời gian để vừa học vừa làm. Nghe thầy hỏi tôi rất cảm động rồi thưa:

-Dạ thưa Thầy, con học sau 5 giờ chiều cho nên chắc không ảnh hưởng gì nhiều. Con cảm ơn Thầy.

   Thầy dẫn tôi đi ra hành lang một vòng để giới thiệu với các đồng sự. Văn phòng được thiết kế theo hình chữ U với hai tầng và sân thượng. Phòng làm việc của khối Công Tác ở lầu 1, phía bên phải. Phía bên trái là phòng làm việc của anh Thiều, tổng thư ký, nằm trong khối Kế Hoạch; ngoài ra còn có hai đồng sự là Nguyên và Thanh Phước.

   Tôi được chia về khối Công Tác, trưởng khối là Đại Đức Thích Toàn Giác mà chúng tôi thường gọi thân mật là Thầy Truyền, cùng phòng còn có Thầy Thọ và cô Bông, thư ký.

   Sau ngày chính thức nhận việc cũng là ngày mà giới truyền thông và báo chí nóng lên với tình hình chiến sự sôi động từ Cao Nguyên cho đến miền Trung; vì vậy VPĐH đã có nhiều công việc hơn như soạn thảo kế hoạch để khẩn cấp đối phó việc cứu trợ trước làn sóng người tỵ nạn tràn vào phía Nam.

   Ngày 12 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và Thầy Phước đi trại định cư Quảng Phú và Nông trại Thanh Văn để hoạch định chương trình công tác cho thời gian sắp tới. Nông trại Thanh Văn ở Quán Chim, Long Thành nằm trên tuyến đường Sài Gòn-Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi mà sau này khi tổ chức giải tán, chúng tôi được chia một lô đất để canh tác.

   Hai ngày sau tôi lại được phái đi Long Khánh để chuyển thư của Thầy Giám Đốc đến Thượng Tọa Thích Bảo Huệ. Trở về Sài Gòn tôi lại được Thầy trưởng khối giao công tác soạn nội quy cho Quảng Khánh. Cầm xấp tài liệu trên tay Thầy vừa cười vừa nói: 

  -Anh học Luật thì việc soạn thảo nội quy, điều lệ hợp với khả năng.Thời gian sắp tới tổ chức sẽ phái anh đi nhiều nơi để điều nghiên thực tế, vì vậy anh có nhiều thì giờ tìm hiểu thêm. Có gì chưa rõ anh cho tôi biết.

   Tôi vui vẻ nhận xấp tài liệu sau khi chú ý lắng nghe những lời chỉ bảo và dặn dò cẩn thận của Thầy, bụng thầm nghĩ chắc cũng không khó, lại nghe thầy nói còn đi điều nghiên và thời gian rộng rãi thì chưa phải lo.

   Nghĩ thì như vậy nhưng chiều hôm đó sau khi sắp xếp bàn làm việc cho gọn gàng ngăn nắp, tôi như thấy lòng mình vui biết bao khi đường đời đã đưa đẩy tôi đến nơi đây để nhận một công việc mà tôi nghĩ là rất thích hợp như đã từng ước mơ trong bao nhiêu năm qua khi còn ngồi trên ghế nhà trường, là muốn được làm người nay đây mai đó để khám phá những điều chưa biết và đến những nơi chưa quen trên những nẻo đường quê hương, do vậy tôi bắt đầu đọc qua tài liệu và thử phát họa bố cục cho nội quy. 

   Giờ tan sở đã đến nhưng tôi chưa có một ý niệm nào trong đầu, quả thật trống rỗng. Tôi thấy người như nóng bừng và cảm nhận được sự việc không đơn giản như những điều đã học trong các bộ luật hoặc những kiến thức đã đọc được qua sách vở.

    Những ngày sau đó tôi phải tạm quên đi xấp tài liệu trong ngăn kéo vì đi công tác liên tục. Hôm 19 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và anh Thiều vừa từ Long Khánh về tới Sài Gòn lúc 12 giờ trưa thì nhận được tin Huế di tản đồng thời với lá thư của ba tôi đề ngày 14 tháng 3 báo cho biết là đang chuẩn bị vào Đà Nẵng nếu Huế mất. Vậy là cả gia đình nay đang đâu đó trên đường chạy loạn với nhiều bất trắc rủi nhiều hơn may đang chờ ở phía trước. Tôi muốn về nhưng chẳng biết phương mô mà tìm? 

   Ngày hôm sau tôi gởi thư tay nhờ thầy Thọ mang về Huế, thầy đi được một ngày thì có tin phường Tây Lộc trong Thành Nội hứng 74 trái đạn pháo kích và ngày 22 tháng 3 nhận thêm 130 trái nữa chia đều cho cả thị xã. Lòng tôi như thiêu đốt nhưng may quá chỉ hai ngày sau đó thì nhận được điện tín của ba tôi: -Gia đình vào Đà Nẵng bình yên.

   Thế nhưng tình hình miền Trung, nhất là Đà Nẵng lộn xộn còn đi nhanh hơn cả điện tín. Cả nước bàng hoàng khi Đà Nẵng mất vào ngày 29 tháng 3, những ai có thân nhân và gia đình ở Đà Nẵng đều sống trong niềm lo âu và rất căng thẳng.

   Qua tin tức mà Văn Phòng nhận được hiện Đà Nẵng đã có một triệu dân tỵ nạn và hỗn loạn chưa từng thấy! Vài hôm sau giờ làm việc tôi có ra Thương Cảng Sài Gòn hai lần để tìm kiếm thân nhân và người quen nhưng chẳng có chuyến tàu nào từ miền Trung cập bến. Không làm được gì khác hơn là cầu nguyện cho gia đình và người thân không phải là những kẻ xấu số.

   Để đáp ứng tình hình chiến sự vào những ngày đầu tháng tư, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã thành lập một ủy ban cứu trợ lấy tên là Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc Trung Ương (UBCTNNCCTW) mà chủ tịch là Thượng Tọa Thích Huyền Quang với nhiều đoàn công tác, trong đó có đoàn An Lợi, tôi được đề cử làm trưởng đoàn.

   Ngày 2 tháng 4 văn phòng điều một xe đi Vũng Tàu để thành lập UBCTNNCC thị xã Vũng Tàu. Hai ngày sau tôi lại về Bến Đá (hai tàu 505 và 404 cập bến), vào trại Chí Linh phát phẩm vật cứu trợ đồng thời tìm thân nhân nhưng chẳng gặp ai.

   Liên tiếp gần một tuần lễ tuyến đường Sài gòn–Long Thành –Bà Rịa–Vũng Tàu tôi lên xuống liên tục để mang phẩm vật cứu trợ đến các trại tạm cư, về lại Sài Gòn trình TW con số đồng bào nhập trại mỗi ngày để có kế hoạch khẩn cấp. Cả văn phòng đều bận rộn, máy điện thoại reo và gọi liên tục, không ai có nhiều thì giờ để ra ngồi quán cà phê đối diện với văn phòng.

   Trong nỗi buồn vì đất nước mãi chiến tranh, nỗi lo vì gia đình thất tán, ít nhiều cũng tìm được niềm vui và an ủi trong công việc, tuy mệt nhọc nhưng đầy ý nghĩa của một thiện nguyện viên trên bước đường phụng sự xã hội. Có nhiều chuyến đi khi trở về Sài gòn thì đã quá muộn nên tôi phải bỏ cả giờ học vì công tác cứu trợ đã lên tới cao điểm khi các tỉnh miền Trung đồng loạt di tản từ dân cho tới lính! Có nhiều trại tạm cư nên tổ chức không đủ nhân viên để phái đi, vì vậy đến ngày 7 tháng 4 đoàn công tác An Lợi về Làng Cô Nhi Long Thành với con số đồng bào lánh nạn ghi được 17.000 người!

   Tôi lại trở về Sài Gòn để tường trình chi tiết và đồng thời lập dự  án mới. Các phẩm vật cứu trợ thường là gạo, sữa, nước tương, dầu, xô đựng nước, đệm...được đặt mua từ các hãng ở Chợ Lớn.

   Vào ngày 8.4.1975 tôi đang ở Sài Gòn để đặt mua phẩm vật thì bom rơi Dinh Độc Lập. Sài Gòn rục rịch xáo trộn. Các tuyến đường ra Trung ít nhiều đã bị cắt do đó có một số anh em sinh viên ở trường Đại học Vạn Hạnh cũng như tôi mất liên lạc với gia đình. Vì vậy tôi đã thay mặt tổ chức đến gặp số anh em này để nhận họ vào đoàn công tác. Đa số các em đều ở Quảng Nam, Đà Nẵng, chỉ có một nữ sinh viên Mỹ Hạnh cũng đi theo đoàn.

   Sáng hôm sau anh em chúng tôi tất cả 9 người lên đường về An Lợi mang theo 2.720 chai nước tương, 1.700 cái xô, 1.500 chiếc chiếu và 10 bao gạo. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc, ai nấy đều vui vẻ, nhiệt tình như không có chuyện gì buồn vừa xảy ra. Lại có thêm Mỹ Hạnh lo chuyện bếp núc, chăm sóc anh em chu đáo từ điếu thuốc cho đến ly cà phê hoặc ly nước khi trời nắng chang chang mà phải dựng nhà, đào hố tiêu giúp đồng bào hay khuân vác phẩm vật để phân phối.

   Ngày 14 tháng 4, chỉ sau hai hôm đoàn công tác đến, số đồng bào kiểm kê được là 41.000 người vì vậy  đoàn đã được tăng cường bác An và Thầy Vĩnh Hạnh, cũng là người Đà Nẵng. Thầy chỉ hơn tôi vài tuổi, vui vẻ, tháo vát và tế nhị, bác An cũng vậy nên chúng tôi mới gặp nhau nhưng tình thân đến rất nhanh. 

   Có chừng một hai buổi tối sau khi cơm nước xong, Mỹ Hạnh pha một bình trà rồi chúng tôi ra sân ngồi quây quần bên nhau ca hát sau một ngày làm việc mệt nhọc, tiếc là những giây phút văn nghệ cây nhà lá vườn đó không lâu vì Cộng quân đã tiến gần Long Khánh và sư đoàn 18 đang đi thụt lùi. Vậy mà sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời tôi vẫn còn nhớ tiếng hát của Thầy Vĩnh Hạnh với bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” thật hay và hùng tráng xen lẫn điều gì đó trong tôi như nỗi buồn phiền và lo âu khi thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời muôn ánh sao đêm rồi thương nhớ gia đình không biết bây giờ đang trôi dạt nơi đâu?!

   Ngày 21 tháng 4 trong lúc đoàn đang đào thêm hố tiêu và lập danh sách trẻ em để cấp sữa thì nghe được diễn văn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trên đài phát thanh. Tình hình quả thật quá rối ren nhưng tại trại tạm cư có quá nhiều công việc để làm, nên ông Thiệu còn tại chức hay từ chức nghe qua rồi bỏ, không quan tâm. Con người đã đến đường cùng thì không còn sợ hãi. Chúng tôi vẫn làm việc quên giờ giấc cho đến đêm 24 tháng 4 Cộng quân pháo vào thị trấn Long Thành và trại tạm cư. Sáng hôm sau ngoài đường lộ tiếng xe tăng, tiếng súng đì đùng đã thấp thoáng đó đây. Đoàn chúng tôi quyết định ở lại hai ngày nữa để phát cho xong số phẩm vật mới nhập trại và để xem xét tình hình ở lại hay là rút?

   Tối 26 tháng 4 đoàn An Lợi vào chùa Siêu Hình để họp với quý Thầy. Buổi họp quyết định rút!

   Thế là sáng ngày 27 tháng 4 một đoàn Tăng và cư sĩ của chùa Siêu Hình cùng với đoàn công tác An Lợi trương cờ Phật Giáo xếp hàng một tiến ra quốc lộ để về Sài Gòn. Đoàn chúng tôi đã đi qua vài điểm đóng quân của lính Cộng Hòa, có vài xác chết của thường dân hai bên đường, không biết vì bị pháo kích hay có đụng độ của một vài đêm trước khi tiếng súng vọng về trại tạm cư?

   Chúng tôi vừa đi bộ vừa chạy đua với hàng ngàn chiếc xe đang nối đuôi nhau "bò" về thủ đô. Về đến Sài Gòn thì trời đã quá trưa, tay chân rã rời, mệt mỏi nhưng quên cả đói khát khi được tin gia đình đã trở lại Huế bình yên. Thêm một nỗi mừng nữa là biết mình vẫn còn sống nhưng chẳng còn tâm trí nào để nhớ tới bản nội quy chưa làm!

   Trưa ngày 30 tháng 4 tôi lên sân thượng VPĐH nhìn về phía chùa Vĩnh Nghiêm. Trên đường Công Lý từng đoàn người dân có, lính có, lại có nhóm kéo lê báng súng đang đi về hướng Sài Gòn. Nghĩ lại mình trước đây ba ngày cũng tả tơi như thế!

   Những ngày cuối tháng 4.1975 như cơn lốc xoáy mang đi sự bình yên của đô thành thì đầu tháng 5 bầu trời ảm đạm như bộ mặt của Sài Gòn trước những cơn mưa chiều bất chợt. Văn Phòng vẫn mở cửa sau một ngày lễ và tôi đã trở về với công việc khi cùng Vinh trở lại An Lợi với chừng 5.000 đồng bào còn lại trong trại tạm cư. Gần một tuần sau thầy Vĩnh Hạnh và các em sinh viên Vạn Hạnh rất nhiệt tình góp mặt trong ngày 6 tháng 5 để cùng nhau chia sẻ với đồng bào những gian khổ một lần nữa trước khi chia tay trở về quê sum họp với gia đình. Những lời chúc, những bàn tay nắm chặt cùng những ân tình không nói nên lời cũng đủ làm xao xuyến những trái tim non trẻ bước đi không rời. Dù tiếng súng đã im hẳn và đồng bào lánh nạn người trước kẻ sau đã lần lượt trở về quê quán, nhưng tôi vẫn được phái đi để cập nhật nhu cầu cứu trợ cho đến khi không còn ai là “người di tản buồn” trong trại nữa, đó là chuyến cuối cùng đi Long Khánh, về ngủ đêm ở nông trại Thanh Văn và sáng hôm sau ngày 6 tháng 6.1975 đi xã Thái Thiện cùng với Đại Đức Thích Thiện Quang.

   Xen kẽ với công tác cứu trợ vào giai đoạn cuối trong hai tháng 5 và 6.1975, tôi đã cùng một vài đồng sự về Chùa Pháp Vân, quận Tân Phú là cơ sở chính của Trường để họp và tham dự vài sự kiện trong đó có Lễ Hiệp Kỵ các anh chị tác viên đã hy sinh cho lý tưởng phụng sự do các anh chị cựu tác viên tổ chức vào ngày 22 và 23 tháng 4 hàng năm; sau đó là ngày Giỗ Thầy Châu Toàn vào tháng 5 Âm lịch.


 

   Cho đến cuối tháng 7 cũng là những ngày cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành khi chính quyền mới đến tiếp thu vào ngày 1 tháng 8 năm 1975, tôi chỉ về trường được ba lần, qua đó mới biết là trường TNPSXH là một phân khoa thuộc trường Đại học Vạn Hạnh (cũng là trường mà tôi đang theo học) do Thầy Thích Nhất Hạnh thành lập và khóa đầu tiên được khai giảng vào năm 1964 nhằm đào tạo một lớp trẻ có khả năng và chí hướng để hòa nhập vào cuộc sống của người dân trong những vùng nông thôn nghèo khó như xây dựng trường học, tạm xá hoặc giúp đỡ những gia đình vô gia cư...

   Trước năm 1975 tên tuổi Thầy không xa lạ trên văn thi đàn và trong giới sinh viên như chúng tôi thời đó qua nhiều tác phẩm như Am Mây Ngủ, Đạo Phật Ngày Nay, Nẻo Về Của Ý, Nói Với Tuổi Hai Mươi, Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, Bông Hồng Cài Áo... và khi Thầy ra nước ngoài từ năm 1966  “với những hoạt động không ngừng nghỉ, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma”(Nguồn: Vũ Hoàng, AP đánh giá trong một bài viết năm 2009).

   Ngoài Tu Viện Làng Mai ở Pháp là cơ sở chính, Thầy đã mở nhiều thiền viện cùng những trung tâm thực hành và đi khắp thế giới thuyết giảng cũng như tổ chức những khóa Thiền. Cũng nhờ vậy mà tôi đã được gặp thầy Nhất Hạnh, Sư cô Chân Không, Sư cô Thoại Nghiêm và Sư cô Diệu Nghiêm nhân chuyến Thầy đi giảng Thiền cho người Áo vào hai ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1994 và một buổi tối dành cho đồng bào Phật tử tại thành phố Salzburg.

   Trở lại hơn 40 năm về trước, tuy thời gian làm việc như một tác viên cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành thuộc trường TNPSXH trước nhu cầu cấp bách về cứu trợ ở vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến, nhưng tôi chưa một lần e sợ những làn đạn vô tình hay e ngại những khó khăn mệt nhọc trên đường công tác thiện nguyện.

   Cho đến bây giờ tôi vẫn lấy làm vui sướng khi có dịp nhớ về và sống lại một quãng thời gian khi mới bước chân vào đời đã có lúc vì người quên mình, trong công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc như là một chặng đường rất khiêm tốn phụng sự xã hội.

NGUYỄN SĨ LONG