Freitag, 29. Mai 2026

NHỮNG ĐIỀU CHƯA NÓI

Làng Triều Thủy, Phú Vang, Huế 


  Chỉ hai tháng sau khi tôi từ Huế trở lại Sài Gòn vào cuối tháng 3.2019, thì được tin người bạn thân Nguyễn Thế Trường đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 29.05.2019 ở Huế, hưởng thọ 70 tuổi. Thật không ngờ tháng 3.2019 cũng là tháng mà hai chúng tôi gặp nhau lần cuối cùng trước khi tôi trở lại Sài Gòn để trở về Áo.

  Như Lan, người bạn đời của Thế Trường đã gọi cho tôi vào sáng ngày 01.06 lúc cô ấy đang cùng gia đình lo hậu sự cho chồng với cả trăm nỗi buồn thương. Như Lan biết tôi là người bạn học thân thiết nhất từ mấy chục năm qua khi còn ở trường học cho đến lúc ra trường đời, tuy mỗi người một phương nhưng vẫn giữ được liên lạc cho nên hai gia đình chúng tôi đã có nhiều dịp gặp nhau trong những lần về thăm nhà. Thật là xúc động và bối rối về một tình cảnh quá sức thương tâm. Nào ai có thể chia sẻ được niềm đau và mất mát của những người thân như với Như Lan trong lúc này, ngoài sự an ủi thì ít nhiều cũng vơi đi đôi chút muộn phiền canh cánh trong lòng. Tôi thật không thể nào ngờ bạn đã chọn cách ra đi quá thương tâm như vậy, khi chỉ hai tháng trước đây thôi, chúng tôi còn ngồi quán cà phê ôn chuyện cũ, chuyện đời xưa tính đến nay cũng đã mấy mươi năm qua rồi.

  Thuở xưa ấy là vào năm 1970 ở trường Luật, Huế. Lớp Luật 1 trước khi nhóm Sinh viên Việt ra đời, một hôm trong giờ Dân Luật của Giáo sư Nguyễn Mạnh Bách lúc sắp đến giờ nghỉ, một sinh viên ngồi hàng sau tỏ ý mượn cuốn tập của tôi vì ngày hôm qua anh vắng mặt. Người sinh viên chưa quen đó là Thế Trường, rồi hai chúng tôi kết thân khi vài hôm sau bạn mời tôi đến nhà chơi ở cuối đường Chi Lăng. Trong lần này bạn đệm đàn và hát cho tôi nghe bài “Đêm Thôi Nôi” của nhạc sĩ Nguyễn Phương Căn: “Từ mang hành lý cô đơn vào đời, một trăm ngõ tối ưu phiền hình hài…” Tôi thích lắm vì từ khi vô Huế cho đến bây giờ đã năm năm, đây là lần đầu tiên được nghe một người bạn mới quen đàn hát rất hay. Sau này khi nhớ lại những chặng đường trong cuộc đời Thế Trường, thì quả thật bài hát được mở đầu như một lời báo trước chẳng có ai để ý nhưng dường như không xa thực tế là bao. Trong mấy năm đến lớp, hình ảnh của bạn trong mắt tôi thường gắn liền với sự nghiêm chỉnh, một chút lạnh lùng ưu tư và cô độc bên sự giao tiếp rất hạn chế. Nhưng nét đặc biệt là bề ngoài bạn luôn đàng hoàng trông rất tư cách, từ mái tóc cho đến y phục. Bạn tôi không hút thuốc, rượu chè cũng không và chưa một lần thấy bạn ngồi cà phê tán dóc với một ai đó. Suốt những năm ‘trong sân trường ngày ấy’ tôi cũng không hề biết bạn đã có người yêu hay chưa, cũng như không nghe bạn đề cập hay để ý những người đẹp cùng lớp cùng trường. 

  Cũng như các bạn trong nhóm Sinh viên Việt mà Thế Trường đều quen biết, thì Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 thật sự là một biến cố ảnh hưởng rất lớn đến đường học vấn của giới sinh viên thời đó với bao nhiêu cuộc chia ly kẻ ở người đi, xa gia đình và những người mình thương yêu. Nhưng nặng nề nhất là sau cuộc đổi đời tháng 4.1975, bạn bè phân tán khắp nơi, có người phải chờ đến ba bốn thập niên mới gặp lại nhau. Tôi và Thế Trường may mắn nối được liên lạc khi gia đình bạn vào lập nghiệp ở Đồng Tháp năm 1977Đến đầu năm 1979 hai tiểu gia đình chúng tôi cùng có con đầu lòng, cũng là năm Thế Trường đã vững tay nghề, đủ kinh nghiệm và uy tín về kết tinh đường nên được chủ hãng giao việc quản lý một nhà máy đường ở Hồng Ngự. Đến cuối năm 1980 vợ chồng Thế Trường vui mừng đón đứa con thứ hai, khi cháu trai được gần một năm tuổi thì con gái đầu lòng qua đời sau cơn bệnh. Đúng hai năm sau, tai họa lại ập đến gia đình bạn tôi một lần nữa khi vợ sanh lần thứ ba, bị nhiễm trùng huyết nên sinh mạng của mẹ và bé trai đã không cứu được khi ngành y tế địa phương thiếu thuốc men vào thời buổi đó. 

Đường phượng bay, Thành Nội  

  Đến năm 1987, cùng năm tôi ra nước ngoài thì Thế Trường quyết định phải bỏ công ăn việc làm và sự nghiệp ở Đồng Tháp để đưa hài cốt vợ về quê. Từ đó bạn ở lại Huế làm gà trống nuôi con và ổn định gia đình để một lần nữa làm lại cuộc đời trong ngành Thủy Sản rồi chuyển qua Liên Doanh xuất khẩu gỗ cho đến năm 1990. Trong giai đoạn này Thế Trường gặp lại Như Lan, người bạn gái cũ nay đã dang dở hạnh phúc gia đình, đúng với thời gian tìm hiểu đã chín muồi nên “đôi trẻ” về chung sống vào năm 1992. Tạm gọi từ đây cuộc sống của đôi bạn khá vững vàng khi Thế Trường đã chứng tỏ được năng lực cùng với sự tích lũy gần mười năm kinh nghiệm trên chiến trường phương Nam, cộng với sức đẩy của Như Lan, cựu nữ sinh Đồng Khánh, là một doanh nhân tài ba, thông minh, tháo vát và kinh nghiệm có thừa trên thương trường. Vài năm sau tôi trở lại, không có gì vui hơn khi đôi uyên ương đã có xe đưa đón lúc trời Huế nắng nóng đến 35 độ C. Lúc  này công việc làm ăn không dừng lại ở đó khi bạn bước qua ngành kinh doanh, mà nhà hàng hải sản ở Phú Vang chính là cơ ngơi cuối cùng của Thế Trường trong thời gian hưu trí khi tôi đã có dịp về thăm vào mùa hè 2015. Được biết Như Lan cũng bận rộn với công ăn việc làm của mình, Thế Trường là chủ duy nhất nên phải quán xuyến mọi việc. Do vậy bạn đã sửa sang xây dựng thêm nhà cửa ở làng Triều Thủy để chuyển về quê sống với gia đình, tiện cho công việc và chăm sóc cha già cùng con cháu được gần gũi hơn.

  Tuy không liên lạc thường xuyên với Thế Trường, nhưng giữa năm 2016 được tin báo làm tôi sửng sốt là bạn đã sang lại nhà hàng cho chủ mới. Lý do được giải thích là có doanh thu nhưng kết toán không lời. Bạn nói thêm là vừa sang nhượng xong không lâu thì xảy ra sự cố Formosa liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt từ đầu tháng 4.2016 ở vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh cho đến Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, Huế. Thời gian này các nhà hàng thuộc các vùng ảnh hưởng bị thiệt hại nặng nề vì vắng khách. Thừa Thiên Huế cũng không tránh khỏi, nhưng đó là điều rất may mắn cho Thế Trường, làm tôi đoán già đoán non bạn sẽ lui về vui thú điền viên chăng?

  Đến tháng 8.2018 được tin nhạc mẫu trở bệnh phải nhập viện lần nữa, nên vợ chồng chúng tôi đã có chuyến đi vừa vội vàng, vừa hồi hộp lại vừa lo sợ không biết có còn kịp gặp mẹ hay không? Chuyến bay hạ cánh vào một chiều giữa tháng 8, từ phi trường Tân Sơn Nhất chúng tôi đi thẳng vào bệnh viện Nguyễn Trãi thăm mẹ trước khi về nhà ở quận 6. Đúng là mẹ tôi ốm nhiều, đau đớn, mệt mỏi, khó khăn lắm mới nhận ra con từ phương xa trở về. Lần này mẹ tôi bệnh khá nặng nên vợ tôi ở lại Sài Gòn chăm sóc mẹ cùng với các em trong gia đình. Tôi ở Sài Gòn bốn hôm rồi ra Huế trước, dự tính ở lâu với mạ vì không còn bận tâm về công ăn việc làm khi vừa nghỉ hưu vào cuối năm 2017. 

  Chẳng chờ đợi lâu, ba ngày sau Thế Trường đến thăm tôi với chiếc Air Blade, bạn lẳng lặng vào phòng thăm mạ tôi, uống vài tách trà rồi đến trưa hai đứa lên dốc Nam Giao tìm đến quán Không Gian Xưa dùng cơm. Đây là địa chỉ khá quen thuộc với bạn bè và gia đình chúng tôi mấy năm qua, riêng với Thế Trường thì đây là lần thứ hai ngồi với nhau trong không gian tương đối yên tĩnh này. Trông bạn vẫn phong độ như ba năm trước trong dịp có Như Lan và vợ chồng chúng tôi ở nhà hàng Triều Dương Quán, Phú Vang. Với ông bạn đôi khi kiệm lời này, tìm cho đúng đề tài để bạn hứng thú tham gia thường hiếm hoi, cho nên khó mà hiểu được lúc này bạn có cuộc sống ra sao sau sự cố Formosa?  

  Chừng 3 giờ chiều hôm đó, Thế Trường chở tôi về nhà bạn để mượn chiếc xe làm phương tiện đi lại ở Huế cho đến ngày trở lại Sài Gòn. Vào sân không thấy xe hơi, tôi không hỏi. Nhà vắng, ngồi chuyện trò với bác trai đã ngoài 90 một lát rồi lên lầu thắp hương trước ảnh thờ của Lệ, là người vợ đầu của Thế Trường qua đời năm 1983 ở Đồng Tháp. Bạn mời nước rồi nhìn bâng quơ nói:

  “-Bạn đã về đây thì không dấu được nữa. Sau nhà hàng, còn chiếc xe cũng bán gần cả năm nay rồi. Nói bạn thêm buồn, mình thất bại là vì quá tin người…khi biết thì đã muộn.” 

  Tôi ra về lúc chiều dần tàn. Trên từng chặng đường đi qua phải cố gắng thuyết phục trí nhớ để khỏi lạc giữa chốn hương đồng cỏ nội khi văng vẳng bên tai vẫn còn nghe những lời tâm sự chua xót của bạn hiền về những điều chưa biết thật quá bất ngờ. Nhưng nghĩ cho cùng, đời người cũng như bến đò ngang Thừa Phủ trên sông Hương thuở nào. Có người đi trước, có người ở lại, nhưng không ai tránh khỏi một ngày phải rời bến. Những vui buồn, thành bại, được mất rồi cũng chỉ là những lớp sóng nổi lên trong khoảnh khắc, để rồi tan vào mặt nước phẳng lặng. Có lẽ điều đáng quý nhất không phải là sống bao lâu, hay giữ được bao nhiêu, mà là trong quãng đời ngắn ngủi ấy mình đã sống tử tế với cuộc đời. Bởi theo lẽ vô thường, mọi thứ rồi sẽ mất đi, chỉ còn lại nghiệp lành đã gieo và đọng trong lòng người ở lại. Biết đâu bạn tôi đã làm được như vậy  sự ra đi đột ngột của Thế Trường khi tự kết liễu đời mình cũng là một lời nhắc nhở âm thầm cho những người còn sống: Hãy biết thương nhau nhiều hơn khi còn có thể. Có bao nhiêu lời yêu thương mà chưa nói được, đừng để đến cuối cùng sẽ không còn cơ hội để nói ra nữa.

  Rồi sẽ có ngày trời yên biển lặng để một mai khi trở lại quê nhà, tôi sẽ cùng Như Lan và Nhóm cựu sinh viên trường Luật sẽ viếng thăm mộ phần Nguyễn Thế Trường, người bạn đồng môn hiền nhân tri kỷ, tính đến nay đã tròn 50 nămtình bạn, thắp nén hương lòng trong khu nghĩa trang gia đình cạnh chùa Thiền Tôn Huế, nơi nghìn thu an nghỉ bốn mùa thông reo trong tiếng chuông ngân mỗi thời kinh sớm.

NGUYỄN SĨ LONG

Montag, 11. Mai 2026

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHỤNG SỰ

Thiền sư Thích Nhất Hạnh 


   Nhân chuyến sang thành phố Salzburg giảng Thiền cho người Áo của Thầy Thích Nhất Hạnh vào tháng 11 năm 1994, làm tôi nhớ lại khi còn ở quê nhà đã có một thời gian là cộng tác viên của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH).

   Lúc đó Thầy đang ở nước ngoài, tôi thì được Trường tuyển dụng vào làm việc ở Văn Phòng Điều Hành (VPĐH) số 380 A đường Công Lý, Sài Gòn mà không qua một lớp đào tạo nào như các khóa đàn anh đàn chị đi trước, đúng vào thời điểm chiến sự từ Cao Nguyên cho đến Miền Trung sôi động vào tháng 3.1975.

   Ngày 11.03.1975 tôi được chính thức nhận việc và trở thành một tác viên của Trường dù sự hiểu biết về tổ chức rất hạn chế cũng như những công việc sắp tới hợp với khả năng mình hay không thì tôi cũng có ít nhiều lo lắng. Hôm đến trình diện tôi được gặp Đại Đức Thích Từ Mẫn, Thầy là Giám đốc Điều hành, sau những lời thăm hỏi và giới thiệu về cơ cấu tổ chức cũng như đội ngũ nhân viên chỉ riêng ở văn phòng, Thầy có hỏi tôi là: -Con vào làm việc với Trường thì có ảnh hưởng gì đến việc học hay không? Thầy nói nhỏ nhẹ và thân thiện làm lòng tôi tiêu tan những lo âu đến nỗi cả đêm thao thức khó ngủ vì đây là lần đầu trong đời đi tìm việc làm, trước là để nhẹ gánh cho gia đình và sau nữa là thân tự lập thân.

   Là một sinh viên Luật vừa ra trường vào mùa hè năm 1974, tôi cũng như những bạn đồng khóa khác rời gia đình và bè bạn vào những ngày đầu trở lạnh của mùa đông xứ Huế năm đó, để vào Sài Gòn ghi danh bậc cao học ở trường Đại học Luật Khoa Sài Gòn và đồng thời ở trường Đại học Vạn Hạnh để lấy hoãn dịch học vấn. Có hai bạn thi đậu vào Sở Điện lực Sài Gòn và những bạn khác có người tập sự luật sư ở Huế, Đà Nẵng hay Nha Trang...Thời khóa biểu ở trường Vạn Hạnh cho các lớp bậc cao học được xếp vào buổi chiều cho nên tôi có nhiều thời gian để vừa học vừa làm. Nghe thầy hỏi tôi rất cảm động rồi thưa:

   -Dạ thưa Thầy, con học sau 5 giờ chiều cho nên chắc không ảnh hưởng gì nhiều. Con cảm ơn Thầy.

   Thầy dẫn tôi đi ra hành lang một vòng để giới thiệu với các đồng sự. Văn phòng được thiết kế theo hình chữ U với hai tầng và sân thượng. Phòng làm việc của khối Công Tác ở lầu 1, phía bên phải. Phía bên trái là phòng làm việc của anh Thiều, tổng thư ký, nằm trong khối Kế Hoạch; ngoài ra còn có hai đồng sự là Nguyên và Thanh Phước.

   Tôi được chia về khối Công Tác, trưởng khối là Đại Đức Thích Toàn Giác mà chúng tôi thường gọi thân mật là Thầy Truyền, cùng phòng còn có Thầy Thọ và cô Bông, thư ký. Sau ngày chính thức nhận việc cũng là ngày mà giới truyền thông và báo chí nóng lên với tình hình chiến sự sôi động từ Cao Nguyên cho đến miền Trung; vì vậy VPĐH đã có nhiều công việc hơn như soạn thảo kế hoạch để khẩn cấp đối phó việc cứu trợ trước làn sóng người tỵ nạn tràn vào phía Nam.

   Ngày 12 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và Thầy Phước đi trại định cư Quảng Phú và Nông trại Thanh Văn để hoạch định chương trình công tác cho thời gian sắp tới. Nông trại Thanh Văn ở Quán Chim, Long Thành nằm trên tuyến đường Sài Gòn-Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi mà sau này khi tổ chức giải tán, chúng tôi được chia một lô đất để canh tác.

   Hai ngày sau tôi lại được phái đi Long Khánh để chuyển thư của Thầy Giám Đốc đến Thượng Tọa Thích Bảo Huệ. Trở về Sài Gòn tôi lại được Thầy trưởng khối giao công tác soạn nội quy cho Quảng Khánh. Cầm xấp tài liệu trên tay Thầy vừa cười vừa nói:

   -Anh học Luật thì việc soạn thảo nội quy, điều lệ hợp với khả năng. Thời gian sắp tới tổ chức sẽ phái anh đi nhiều nơi để điều nghiên thực tế, vì vậy anh có nhiều thì giờ tìm hiểu thêm. Có gì chưa rõ anh cho tôi biết.

   Tôi vui vẻ nhận xấp tài liệu sau khi chú ý lắng nghe những lời chỉ bảo và dặn dò cẩn thận của Thầy, bụng thầm nghĩ chắc cũng không khó, lại nghe thầy nói còn đi điều nghiên và thời gian rộng rãi thì chưa phải lo.

   Nghĩ thì như vậy nhưng chiều hôm đó sau khi sắp xếp bàn làm việc cho gọn gàng ngăn nắp, tôi như thấy lòng mình vui biết bao khi đường đời đã đưa đẩy tôi đến nơi đây để nhận một công việc mà tôi nghĩ là rất thích hợp như đã từng ước mơ trong bao nhiêu năm qua khi còn ngồi trên ghế nhà trường, là muốn được làm người nay đây mai đó để khám phá những điều chưa biết và đến những nơi chưa quen trên những nẻo đường quê hương, do vậy tôi bắt đầu đọc qua tài liệu và thử phát họa bố cục cho nội quy. 

   Giờ tan sở đã đến nhưng tôi chưa có một ý niệm nào trong đầu, quả thật trống rỗng. Tôi thấy người như nóng bừng và cảm nhận được sự việc không đơn giản như những điều đã học trong các bộ luật hoặc những kiến thức đã đọc được qua sách vở.

   Những ngày sau đó tôi phải tạm quên đi xấp tài liệu trong ngăn kéo vì đi công tác liên tục. Hôm 19 tháng 3 cùng với Thầy Giám Đốc, Thầy Truyền, Thầy Thọ và anh Thiều vừa từ Long Khánh về tới Sài Gòn lúc 12 giờ trưa thì nhận được tin Huế di tản đồng thời với lá thư của ba tôi đề ngày 14 tháng 3 báo cho biết là đang chuẩn bị vào Đà Nẵng nếu Huế mất. Vậy là cả gia đình nay đang đâu đó trên đường chạy loạn với nhiều bất trắc rủi nhiều hơn may đang chờ ở phía trước. Tôi muốn về nhưng chẳng biết phương mô mà tìm? 

   Ngày hôm sau tôi gởi thư tay nhờ thầy Thọ mang về Huế, thầy đi được một ngày thì có tin phường Tây Lộc trong Thành Nội hứng 74 trái đạn pháo kích và ngày 22 tháng 3 nhận thêm 130 trái nữa chia đều cho cả thị xã. Lòng tôi như thiêu đốt nhưng may quá chỉ hai ngày sau đó thì nhận được điện tín của ba tôi: -Gia đình vào Đà Nẵng bình yên.

   Thế nhưng tình hình miền Trung, nhất là Đà Nẵng lộn xộn còn đi nhanh hơn cả điện tín. Cả nước bàng hoàng khi Đà Nẵng mất vào ngày 29 tháng 3, những ai có thân nhân và gia đình ở Đà Nẵng đều sống trong niềm lo âu và rất căng thẳng. Qua tin tức mà Văn Phòng nhận được hiện Đà Nẵng đã có một triệu dân tỵ nạn và hỗn loạn chưa từng thấy! Vài hôm sau giờ làm việc tôi có ra Thương Cảng Sài Gòn hai lần để tìm kiếm thân nhân và người quen nhưng chẳng có chuyến tàu nào từ miền Trung cập bến. Không làm được gì khác hơn là cầu nguyện cho gia đình và người thân không phải là những kẻ xấu số.

   Để đáp ứng tình hình chiến sự vào những ngày đầu tháng tư, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã thành lập một ủy ban cứu trợ lấy tên là Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc Trung Ương (UBCTNNCCTW) mà chủ tịch là Thượng Tọa Thích Huyền Quang với nhiều đoàn công tác, trong đó có đoàn An Lợi, tôi được đề cử làm trưởng đoàn.

   Vào ngày 2 tháng 4 Văn phòng điều một chuyến xe đi Vũng Tàu để thành lập UBCTNNCC thị xã Vũng Tàu. Hai ngày sau tôi lại về Bến Đá (hai tàu 505 và 404 cập bến), vào trại Chí Linh phát phẩm vật cứu trợ đồng thời tìm thân nhân nhưng chẳng gặp ai. Liên tiếp gần một tuần lễ tuyến đường Sài gòn - Long Thành - Bà Rịa - Vũng Tàu tôi lên xuống liên tục để mang phẩm vật cứu trợ đến các trại tạm cư, về lại Sài Gòn trình TW con số đồng bào nhập trại mỗi ngày để có kế hoạch khẩn cấp. Cả văn phòng đều bận rộn, máy điện thoại reo và gọi liên tục, không ai có nhiều thì giờ để ra ngồi quán cà phê đối diện với văn phòng.

   Trong nỗi buồn vì đất nước mãi chiến tranh, nỗi lo vì gia đình thất tán, ít nhiều cũng tìm được niềm vui và an ủi trong công việc, tuy mệt nhọc nhưng đầy ý nghĩa của một thiện nguyện viên trên bước đường phụng sự xã hội. Có nhiều chuyến đi khi trở về Sài gòn thì đã quá muộn nên tôi phải bỏ cả giờ học vì công tác cứu trợ đã lên tới cao điểm khi các tỉnh miền Trung đồng loạt di tản từ dân cho tới lính! Có nhiều trại tạm cư nên tổ chức không đủ nhân viên để phái đi, vì vậy đến ngày 7 tháng 4 đoàn công tác An Lợi về Làng Cô Nhi Long Thành với con số đồng bào lánh nạn ghi được 17.000 người!

   Tôi lại trở về Sài Gòn để tường trình chi tiết và đồng thời lập dự án mới. Các phẩm vật cứu trợ thường là gạo, sữa, nước tương, dầu, xô đựng nước, đệm...được đặt mua từ các hãng ở Chợ Lớn. Vào ngày 8.4.1975 tôi đang ở Sài Gòn để đặt mua phẩm vật thì bom rơi Dinh Độc Lập. Sài Gòn rục rịch xáo trộn. Các tuyến đường ra Trung ít nhiều đã bị cắt do đó có một số anh em sinh viên ở trường Đại học Vạn Hạnh cũng như tôi mất liên lạc với gia đình. Vì vậy tôi đã thay mặt tổ chức đến gặp số anh em này để nhận họ vào đoàn công tác. Đa số các em đều ở Quảng Nam, Đà Nẵng, chỉ có một nữ sinh viên Mỹ Hạnh cũng đi theo đoàn.

   Sáng hôm sau anh em chúng tôi tất cả 9 người lên đường về An Lợi mang theo 2.720 chai nước tương, 1.700 cái xô, 1.500 chiếc chiếu và 10 bao gạo. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc, ai nấy đều vui vẻ, nhiệt tình như không có chuyện gì buồn vừa xảy ra. Lại có thêm Mỹ Hạnh lo chuyện bếp núc, chăm sóc anh em chu đáo từ điếu thuốc cho đến ly cà phê hoặc ly nước khi trời nắng chang chang mà phải dựng nhà, đào hố tiêu giúp đồng bào hay khuân vác phẩm vật để phân phối.

   Ngày 14 tháng 4, chỉ sau hai hôm đoàn công tác đến, số đồng bào kiểm kê được là 41.000 người vì vậy đoàn đã được tăng cường bác An và Thầy Vĩnh Hạnh, cũng là người Đà Nẵng. Thầy chỉ hơn tôi vài tuổi, vui vẻ, tháo vát và tế nhị, bác An cũng vậy nên chúng tôi mới gặp nhau nhưng tình thân đến rất nhanh. Có chừng một hai buổi tối sau khi cơm nước xong, Mỹ Hạnh pha một bình trà rồi chúng tôi ra sân ngồi quây quần bên nhau ca hát sau một ngày làm việc mệt nhọc, tiếc là những giây phút văn nghệ cây nhà lá vườn đó không lâu vì Cộng quân đã tiến gần Long Khánh và sư đoàn 18 đang đi thụt lùi. Vậy mà sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời tôi vẫn còn nhớ tiếng hát của Thầy Vĩnh Hạnh với bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” thật hay và hùng tráng xen lẫn điều gì đó trong tôi như nỗi buồn phiền và lo âu khi thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời muôn ánh sao đêm rồi thương nhớ gia đình không biết bây giờ đang trôi dạt nơi đâu?!

   Ngày 21 tháng 4 trong lúc đoàn đang đào thêm hố tiêu và lập danh sách trẻ em để cấp sữa thì nghe được diễn văn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trên đài phát thanh. Tình hình quả thật quá rối ren nhưng tại trại tạm cư có quá nhiều công việc để làm, nên ông Thiệu còn tại chức hay từ chức nghe qua rồi bỏ, không quan tâm. Con người đã đến đường cùng thì không còn sợ hãi. Chúng tôi vẫn làm việc quên giờ giấc cho đến đêm 24 tháng 4 Cộng quân pháo vào thị trấn Long Thành và trại tạm cư. Sáng hôm sau ngoài đường lộ tiếng xe tăng, tiếng súng đì đùng đã thấp thoáng đó đây. Đoàn chúng tôi quyết định ở lại hai ngày nữa để phát cho xong số phẩm vật mới nhập trại và để xem xét tình hình ở lại hay là rút?

   Tối 26 tháng 4 đoàn An Lợi vào chùa Siêu Hình để họp với quý Thầy. Buổi họp quyết định rút!

   Thế là sáng ngày 27 tháng 4 một đoàn Tăng và cư sĩ của chùa Siêu Hình cùng với đoàn công tác An Lợi trương cờ Phật Giáo xếp hàng một tiến ra quốc lộ để về Sài Gòn. Đoàn chúng tôi đã đi qua vài điểm đóng quân của lính Cộng Hòa, có vài xác chết của thường dân hai bên đường, không biết vì bị pháo kích hay có đụng độ của một vài đêm trước khi tiếng súng vọng về trại tạm cư?

   Chúng tôi vừa đi bộ vừa chạy đua với hàng ngàn chiếc xe đang nối đuôi nhau "bò" về thủ đô. Về đến Sài Gòn thì trời đã quá trưa, tay chân rã rời, mệt mỏi nhưng quên cả đói khát khi được tin gia đình đã trở lại Huế bình yên. Thêm một nỗi mừng nữa là biết mình vẫn còn sống nhưng chẳng còn tâm trí nào để nhớ tới bản nội quy chưa làm!

   Trưa ngày 30 tháng 4 tôi lên sân thượng VPĐH nhìn về phía chùa Vĩnh Nghiêm. Trên đường Công Lý từng đoàn người dân có, lính có, lại có nhóm kéo lê báng súng đang đi về hướng Sài Gòn. Nghĩ lại mình trước đây ba ngày cũng tả tơi như thế!

   Những ngày cuối tháng 4.1975 như cơn lốc xoáy mang đi sự bình yên của đô thành thì đầu tháng 5 bầu trời ảm đạm như bộ mặt của Sài Gòn trước những cơn mưa chiều bất chợt. Văn Phòng vẫn mở cửa sau một ngày lễ và tôi đã trở về với công việc khi cùng Vinh trở lại An Lợi với chừng 5.000 đồng bào còn lại trong trại tạm cư. Gần một tuần sau thầy Vĩnh Hạnh và các em sinh viên Vạn Hạnh rất nhiệt tình góp mặt trong ngày 6 tháng 5 để cùng nhau chia sẻ với đồng bào những gian khổ một lần nữa trước khi chia tay trở về quê sum họp với gia đình. Những lời chúc, những bàn tay nắm chặt cùng những ân tình không nói nên lời cũng đủ làm xao xuyến những trái tim non trẻ bước đi không rời. Dù tiếng súng đã im hẳn và đồng bào lánh nạn người trước kẻ sau đã lần lượt trở về quê quán, nhưng tôi vẫn được phái đi để cập nhật nhu cầu cứu trợ cho đến khi không còn ai là “người di tản buồn” trong trại nữa, đó là chuyến cuối cùng đi Long Khánh, về ngủ đêm ở nông trại Thanh Văn và sáng hôm sau ngày 6 tháng 6.1975 đi xã Thái Thiện cùng với Đại Đức Thích Thiện Quang.

   Xen kẽ với công tác cứu trợ vào giai đoạn cuối trong hai tháng 5 và 6.1975, tôi đã cùng một vài đồng sự về Chùa Pháp Vân, quận Tân Phú là cơ sở chính của Trường để họp và tham dự vài sự kiện trong đó có Lễ Hiệp Kỵ các anh chị tác viên đã hy sinh cho lý tưởng phụng sự do các anh chị cựu tác viên tổ chức vào ngày 22 và 23 tháng 4 hàng năm; sau đó là ngày Giỗ Thầy Châu Toàn vào tháng 5 Âm lịch. 



   Cho đến cuối tháng 7 cũng là những ngày cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành khi chính quyền mới đến tiếp thu vào ngày 1 tháng 8 năm 1975, tôi chỉ về trường được ba lần, qua đó mới biết là Trường TNPSXH là một phân khoa thuộc Trường Đại học Vạn Hạnh (cũng là trường mà tôi đang theo học) do Thầy Thích Nhất Hạnh thành lập và khóa đầu tiên được khai giảng vào năm 1964 nhằm đào tạo một lớp trẻ có khả năng và chí hướng để hòa nhập vào cuộc sống của người dân trong những vùng nông thôn nghèo khó như xây dựng trường học, tạm xá hoặc giúp đỡ những gia đình vô gia cư...

   Trước năm 1975 tên tuổi Thầy không xa lạ trên văn thi đàn và trong giới sinh viên như chúng tôi thời đó qua nhiều tác phẩm như Am Mây Ngủ, Đạo Phật Ngày Nay, Nẻo Về Của Ý, Nói Với Tuổi Hai Mươi, Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, Bông Hồng Cài Áo...và khi Thầy ra nước ngoài từ năm 1966 “với những hoạt động không ngừng nghỉ, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma”(Nguồn: Vũ Hoàng, AP đánh giá trong một bài viết năm 2009).

   Ngoài Tu Viện Làng Mai ở Pháp là cơ sở chính, Thầy đã mở nhiều thiền viện cùng những trung tâm thực hành và đi khắp thế giới thuyết giảng cũng như tổ chức những khóa Thiền. Cũng nhờ vậy mà tôi đã được gặp thầy Nhất Hạnh, Sư cô Chân Không, Sư cô Thoại Nghiêm và Sư cô Diệu Nghiêm nhân chuyến Thầy đi giảng Thiền cho người Áo vào hai ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1994 và một buổi tối dành cho đồng bào Phật tử tại thành phố Salzburg.

   Trở lại hơn 40 năm về trước, tuy thời gian làm việc như một tác viên cuối cùng của Văn Phòng Điều Hành thuộc trường TNPSXH trước nhu cầu cấp bách về cứu trợ ở vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến nhưng tôi chưa một lần e sợ những làn đạn vô tình hay e ngại những khó khăn mệt nhọc trên đường công tác thiện nguyện.

   Cho đến bây giờ tôi vẫn lấy làm vui sướng khi có dịp nhớ về và sống lại một quãng thời gian khi mới bước chân vào đời đã có lúc vì người quên mình trong công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, như là một chặng đường rất khiêm tốn phụng sự xã hội.

NGUYỄN SĨ LONG