Từ Huế, tôi trở lại Sài Gòn lần thứ hai vào tháng 9.1974 để tiếp tục đường học vấn. Việc học chưa biết như thế nào và sẽ ra sao, nhưng khó khăn trước mắt đó là việc ăn ở nơi đâu cho tiện, vừa tiết kiệm chi phí đi lại, vừa không mất nhiều thời gian đến trường thì không hề dễ dàng chút nào.
Đầu năm 1975, việc cư trú đã ổn định sau khi tôi và người bạn học đã thuê được nhà, nhận thấy buổi sáng có nhiều thời gian khi giờ học vào buổi chiều nên tôi nghĩ đến tìm việc làm để giảm gánh nặng cho gia đình. Do vậy vào giữa tháng 3, tôi được một Tổ Chức Từ Thiện nhận vào làm việc, có trụ sở ở Sài Gòn. Đến cuối tháng 3.1975 tình hình chiến sự đã đến gần Sài Gòn, tôi được sung vào Đoàn Cứu Trợ để mang phẩm vật đến giúp đỡ dòng người di tản từ Miền Trung cho đến Tây Nguyên đang lan rộng về phương Nam ở các trại tạm cư ngày càng đông.
Sau ngày 30.04.1975, trong lúc bộ máy chính quyền cũ đều ngưng hoạt động, trường học đóng cửa, thì Đoàn Cứu Trợ chúng tôi vẫn tiếp tục với mức độ giảm dần và chấm dứt vào giữa tháng 7.1975 khi không còn một ai là người di tản trong các trại tạm cư ở vùng ngoại ô Sài Gòn. Sau đó Tổ Chức Từ Thiện đã có món quà tặng cho mỗi nhân viên nửa tháng lương, tương đương với số tiền 10.000 đồng, như một lời cảm ơn đội ngũ cứu trợ đã cùng nhau vượt khó trong thời gian vừa qua.
Về nhân sự của Đoàn Cứu Trợ ai cũng có những giây phút cảm xúc cùng nỗi buồn chia tay, nhưng lòng thì rộn niềm vui khi mình đã góp được bàn tay nhỏ bé mang đến cho đồng bào “một miếng khi đói bằng gói khi no” trong hoàn cảnh hiểm nguy trên đường chạy loạn cùng sự mất mát trong những ngày binh biến khi lịch sử đã bước sang một trang mới. Riêng tôi lại có thêm một niềm vui nữa, đây là lần đầu thấy mình đã đủ khôn lớn để tự lo cho cuộc sống bằng đôi bàn tay cùng sự siêng năng và chịu khó trong công việc như suốt thời gian 5 tháng vừa qua. Tuy cũng có lúc căng thẳng, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm và thích ứng với công việc, nhưng cũng thật là xứng đáng với mỗi tháng được nhận khoản thù lao đủ để trang trải cuộc sống thường nhật gồm bốn tháng rưỡi tiền lương 90.000 đồng (20.000 đ/tháng) và 45.000 đồng công tác phí.
Với những con số ở trên cũng thấy được công tác phí bằng nửa tiền lương tháng thì ít nhiều cũng có số dư sau mỗi chuyến đi công tác, lại thêm 5 tháng được miễn trả tiền thuê nhà, cộng với hai tháng tiền gia đình gởi chưa xài tới. Tôi tự hỏi, mình sẽ làm gì với số tiền khoảng 135.000 đồng này? Không ngờ câu hỏi này lại được giải đáp vào một hôm trong tháng 9.1975 khi tôi đến thăm Nguyễn Đức Tâm, người bạn học đã chuyển gia đình gồm vợ con vào Sài Gòn sau khi thi đậu vào Sở Điện Lực, Sài Gòn vào mùa hè 1974.
Hôm đó là lần thăm viếng không bình thường như những lần trước, khi bất ngờ được bạn giới thiệu căn nhà sát vách với diện tích y như nhà Tâm đang ở, rao bán với giá 100.000 đồng. Tôi suy nghĩ rất nhanh, chỉ với một trăm ngàn mà mua được căn nhà 27 m2 thì quả thật là khó tin. Nó còn rẻ hơn chiếc xe Honda PC mà tôi đã mua vào tháng 10.1974 giá 105.000 đồng khi mới vào Sài Gòn được hai tháng. Dù sao thì lúc còn trẻ có được căn nhà nhỏ hay lớn không quan trọng, mà điều quan trọng chính là bước khởi đầu cho sự ổn định cuộc sống lâu dài sau này. Tôi nghĩ vậy nên ngay buổi chiều hôm đó đã được xem căn nhà gác gỗ cùng giấy tờ hợp lệ, xác định giá cả, đồng thời thỏa thuận ngày mai gặp lại để có quyết định sau cùng.
Vậy là chỉ trong 5 tháng đi làm, cùng với sự dành dụm khoản tiền từ gia đình mỗi tháng, tôi đã mua được một căn nhà có gác nhỏ, chưa tới 27m2 (3,8m x 7m) với giá 100.000 đồng vào ngày 10.09.1975, trước khi đổi tiền lần thứ nhất, 22.09.1975. Căn nhà ở trong hẻm Thái Bình, Tân Việt, đối diện với trại Hoàng Hoa Thám, gần Ngã tư Bảy Hiền. Với chúng tôi, Tâm là người bạn thân từ năm Luật 1 cho đến khi tốt nghiệp ở trường Luật, Huế. Nay lại gặp nhau nơi đất khách quê người, cũng nhờ bạn nhiệt tình muốn tôi mua căn nhà này để bạn bè hôm sớm có nhau khi hoàn cảnh hai đứa đều xa nhà, xa quê. Rồi sau đó mọi thủ tục cho việc mua bán nhà đã hoàn tất êm đẹp.
Nhớ lại vào thời điểm đó, lúc hoàn cảnh “tứ cố vô thân” chẳng có ai thân thiết nơi quê người mà sở hữu được một căn nhà ở thành phố để nương thân và tính chuyện xây dựng gia đình trong tương lai thì thật là hạnh phúc. Nghĩ xa hơn nữa là những lúc không có công ăn việc làm thì mình cũng thấy yên tâm, chẳng phải sợ hãi hay lo lắng quá mức, chỉ cần kiên nhẫn tìm việc, rồi sau cơn mưa trời lại sáng.
Sau khi mua sắm một số nội thất cần thiết nhất vào cuối năm 1975, tôi đã hết sức vui mừng và cảm thấy không còn lo lắng về nơi ăn chốn ở để tập trung vào công ăn việc làm, trước thì nuôi thân, sau là giúp đỡ gia đình cũng đang khó khăn trong hoàn cảnh mới.
Như thường lệ khi mỗi độ xuân về, tôi trở lại Sài Gòn vào giữa tháng 2.1976 sau ba tuần lễ về Huế ăn Tết cùng gia đình. Tuy trong nhà không nghe ai than vãn nhưng nụ cười thì rất hiếm hoi. Ba tôi thất nghiệp đã trên một năm, mẹ thì nuôi đến bảy đứa con còn ăn học. Ngoài những lúc tôi về thăm nhà như người khách, còn tất cả từ lớn cho đến nhỏ đều phụ ba mẹ cuốc đất trồng rau khi các gia đình ở gần Vườn Cam trong nội thành, đã được Hợp Tác Xã chia cho một miếng đất để canh tác cùng với bà con lối xóm vào những năm sau đó. Thế mới biết cuộc sống ít nhiều cũng có thay đổi theo sự biến chuyển của thời cuộc, số người thất nghiệp càng cao thì công ăn việc làm là vô cùng quan tọng.
Ngay ở Sài Gòn cũng vậy, năm 1976 đời sống bắt đầu khó khăn cho mọi tầng lớp xã hội sau một năm thắt lưng buộc bụng. Các hàng hóa và thực phẩm thiết yếu như gạo, đường, sữa, vải vóc, rượu, trà, thuốc men ngày càng khan hiếm nên những khu Chợ Trời bắt đầu xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu với cảnh người dân mang đồ mang ra chợ bán bất cứ thứ gì có trong nhà: từ áo quần cũ, chén bát, nhu yếu phẩm, thuốc men cho đến tài sản gia đình như tư trang, đồng hồ, ngoại tệ, máy móc, xe cộ…đã dần xuất hiện quen thuộc ở khu vực Huỳnh Thúc Kháng, đường Nguyễn Huệ, Chợ Cũ và dọc theo các con đường ở trung tâm Sài Gòn.
Cũng trong năm 1976, vào ngày 2 tháng 7 Đô Thành Sài Gòn và một số con đường trong thành phố thay tên mới, nhờ mấy tháng đi làm trong năm 1975 nên tôi đã biết được khá nhiều đường sá, các khu phố, chợ và những trung tâm thương mại, góp phần nhanh chóng hòa nhập cuộc sống của người dân Sài Gòn với những công việc ít nhiều đã được khai sinh trong thời đại mới, cũng đắp đổi qua ngày với tâm trạng bình an, học hỏi, tự tin và không vội vàng. Có lẽ nhờ vậy mà năm 1976 được nhớ đến như là quãng đời độc thân, yên tĩnh và tinh thần được thoải mái hơn so với năm trước của tuổi vừa bước chân vào đời, cùng những câu chuyện buồn vui qua 30 trang thơ chép tay chừng 18 bài, khổ 21 x 12,5 cm, được viết ở trên tầng gác có cửa sổ nhìn ra cánh đồng rất thoáng mát và đẹp trong những đêm có ánh trăng về.
Năm đó tác giả 25 tuổi, tính đến nay đã tròn 50 năm tập thơ mỏng manh chào đời (1976-2026) và đồng thời cuộc sống độc thân cũng được khép lại vào cuối năm 1976, hé mở một câu chuyện tình sẽ có hồi kết như ý vào cuối năm 1977.
Và bây giờ, hân hạnh giới thiệu cùng bạn đọc xa gần hai bài thơ trích trong tập thơ viết tay năm 1976 tại Sài Gòn.
NGUYỄN SĨ LONG
Wien, 24.06.2026
TRẦM CA
Hỡi cô em bé nhỏ của anh
Đêm về em có đọc thư xanh
Có thường mong nhớ chàng thi sĩ
Đã viết cho em những thơ tình
Hỡi cô em diễm lệ của anh
Em nghĩ gì không lúc xa nhau
Có thường cầu nguyện ngày mai tới
Mình sống bên nhau đến bạc đầu
Hỡi cô nhân tình hay giận ơi
Sao quá chua cay để anh buồn
Để anh từng đêm ngồi tưởng nhớ
Bóng hình như thể thoáng sao rơi
Em đã là em em của anh
Em giận thì anh phải làm lành
Xa nhau là mấy rồi em nhỉ
Mà sao anh thấy lòng như xanh
Ngồi viết cho em lá thư tình
Mà nghe trăng xuống ở xung quanh
Và đâu tiếng hát trong đêm vắng
Như khúc trầm ca vỡ trong anh.
NGUYỄN SĨ LONG
Sài Gòn, 4.1976
ĐÊM TRĂNG
Đêm nay trăng về qua cửa sổ
Căn gác buồn tênh tựa mặt hồ
Xa xa cây cỏ nằm im đợi
Từng mái tôn che tỏa bóng mờ
Gió từ phương mô không ghé lại
Mây ơi hờ hững miệt mài bay
Mình ta ngồi giữa trời cô quạnh
Nhớ thương nào biết tỏ ai hay
Em đã đi mùi hương thoáng tưởng
Bóng hình đây ôi nhớ và thương
Dù đón trăng về qua gác nhỏ
Lòng vẫn nhớ em ở phố phường
Khói thuốc mênh mông mùi thơm tỏa
Như suối tóc em tuổi ngọc ngà
Mắt em sao sáng đêm huyền diệu
Môi hồng nung ấm trái tim xa
Trăng đã về đây chẳng ngại ngần
Nhìn trăng lòng rối lẫn bâng khuâng
Đêm nay trăng sáng bờ hiu quạnh
Trăng vuốt hồn thơ lai láng ngân
Đến đây trăng hỡi đến đây em
Cùng ngủ với nhau một đêm xem
Ngày sau thi sĩ buồn ganh tị
Thì bảo rằng ta quá yêu em.
NGUYỄN SĨ LONG
Sài Gòn, 12.08.1976
Keine Kommentare:
Kommentar veröffentlichen