Freitag, 22. September 2017

ÁNH LỬA TRẠI

 
 
Đôi Lời Giới Thiệu :

    Tôi đi vượt biên vào giữa năm 1987, để lại vợ và 2 con ở Sài gòn. Gần 4 năm sau, vào tháng 2.1991 từ Salzburg tôi lên Wien để đón vợ và 2 con sang Áo đoàn tụ. Kiều Nam hay còn gọi là Bé Ty lúc đó được 8 tuổi. Hai cháu đến trường học tiếng Đức, về nhà nói tiếng Việt để khỏi quên tiếng Mẹ. Vài năm sau gia đình chúng tôi thường sang München (Munich) lễ chùa Tâm Giác (trước đó là Niệm Phật Đường Tâm Giác), nhờ vậy mà ngoài sinh hoạt Phật sự vào những ngày lễ lớn, hai cháu còn rèn luyện thêm tiếng Việt nhờ tiếp xúc với các anh chị trong gia đình Phật tử và bạn bè cùng lớp.
    Bé Ty cũng theo chân người chị Chân Như lên thủ đô Wien học sau khi hoàn tất chương trình 5 năm ở trường Bundeshandelsakademie II, Salzburg vào năm 2003. Ở Wien, Kiều Nam phải mất 2 năm để đổi trường. Cuối cùng, WU mới là ngôi trường trao bằng tốt nghiệp vào tháng 12. 2011.
    Dưới đây là bài văn đầu tay của Kiều Nam, được đăng trên báo Hoa Sen (Nội san của Hội VHXHPT Việt Nam tại Áo) số 13, ấn bản tháng 2.2000, lúc 17 tuổi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

  The Grand Palace, Bangkok 2013

ÁNH LỬA TRẠI 

    Nhận lời mời của gia đình Phật tử Chánh Tín về cuộc cắm trại trong ba ngày tại München, năm chị em chúng tôi đã đáp xe lửa từ Salzburg vào một buổi chiều hè tháng 8.1999. Trời đẹp, nắng ấm chắc không nhiều thì ít đã làm an tâm những người bạn của tôi lần đầu tiên xa nhà để tham dự mấy ngày sinh hoạt ngoài trời mà thật ra từ khi đến định cư tại Áo, chính tôi cũng chưa có lần nào được gặp nhau trong những ngày hè như thế này.
    Vừa rời nhà ga München được mấy bước đã thấy anh Lâm đang đứng chờ chúng tôi. Sau khi chị tôi và tôi giới thiệu ba cô bạn lần đầu tiên đến München, anh Lâm đưa chúng tôi đến Niệm Phật Đường Tâm Giác. Tôi đã cùng với ba mẹ tham dự các ngày lễ nhiều lần ở đây, nhưng hôm nay tự nhiên thấy một cái gì vui hơn, nô nức hơn về những trò chơi đang chờ chúng tôi vào ngày mai. Đang suy nghĩ miên man thì xe đã đến trước cổng Niệm Phật Đường. Anh Sử và anh Hưng khiêng những thùng đồ cần dùng cho buổi cắm trại vô xe. Chúng tôi tới chào hỏi hai anh và luôn tiện giới thiệu chị Nghi, Maria và Bích cho mọi người làm quen. Tất cả chúng tôi vào bên trong và được gặp anh Bình dưới nhà bếp. Chúng tôi gọi anh là ’Bình sữa’ vì có một người cùng tên nữa nên đặt tên như vậy cho tiện. Sau vài lời chào hỏi tôi ra ngoài phụ anh Hưng cắt rau cải để chuẩn bị cho anh Bình sữa nấu ăn. Một lát sau thì các anh chị em cũng xuống phụ một tay, chúng tôi vừa làm vừa đùa giỡn rất là vui. Chúng tôi chia làm hai nhóm, một nhóm phụ anh Bình nấu ăn còn một nhóm thì dọn chén đũa ra. Đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức tài nghệ của anh Bình. Ai cũng phải công nhận là anh Bình nấu đồ ăn chay rất ngon.
    Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi lái xe tới chỗ cắm trại, nơi mà mấy anh đang dựng lều lên. Lúc đó các anh chị ở Nürnberg, anh Thành ở Berlin và các anh ở München đã có mặt đầy đủ. Chúng tôi chào hỏi và giới thiệu nhau với khoảng 22 người tham dự. Sau khi dựng lều xong thì chúng tôi đốt lửa trại và ngồi quanh vòng tròn, cùng nướng khoai, ăn chuối, ăn trứng. Trong nhóm có anh V. Thành nói chuyện rất là tiếu lâm. Anh mà nói chuyện là bắt buộc người ta phải cười thôi. Anh Thành thấy Bích và tôi 'còn non' chưa biết 'chuyện đời' nên anh chọc hai đứa tới bến luôn. Bích và tôi thì nói không lại anh nên đành cười huề vốn thôi.
    Vì thời tiết trở lạnh nên khoảng 10 giờ đêm chúng tôi rút quân vô lều lớn. Trong lều chị Loan và chị tôi đã chuẩn bị bánh trái và nước cho các anh em ngồi lại trà đàm. Đầu tiên thì mỗi người phải tự giới thiệu mình để cho dễ xưng hô. Sau đó mấy anh nghĩ ra những trò chơi rất vui tươi, các anh ai cũng đã lớn rồi nhưng mà vẫn chơi các trò chơi với tất cả tâm hồn. Chúng tôi chơi cái này tới cái kia, mà trò chơi nào cũng đem tới các anh em chúng tôi những tiếng cười vui vẻ. Khi không còn ai nghĩ ra trò chơi mới được nữa thì chúng tôi bắt đầu đổi qua ca hát. Anh Sơn thì đàn cho các anh em chúng tôi hát, nhờ dịp này mà chúng tôi mới khám phá ra những 'nhân tài còn nằm trong lá ủ' của thành phố München có những giọng hát rất hay. Chúng tôi chơi tới 2 giờ khuya. Mấy cô con gái thì được ngủ yên giấc ở trong mấy cái lều nhỏ tới sáng, còn các anh thì phải thay nhau trực cho tới lúc mặt trời mọc, mấy anh thì ngủ chung với nhau trong cái lều lớn mà chúng tôi đã tham dự trò chơi hồi tối. Vì chúng tôi đã lấy bánh kẹo ra ăn nên buổi tối đã có một đàn kiến kéo tới, mấy anh thiệt là vất vả để 'chống lại'. Nếu mà không phải thức để trực thì lại phải ngủ với kiến! Tuy vậy, qua sáng mai thấy ai cũng rất là tỉnh táo.
    Chúng tôi dùng điểm tâm bằng bánh mì và uống cà phê, sau đó định múa Tai Tschi với anh Dũng, nhưng ai cũng làm biếng hết và hơi mắc cở nên chỉ chơi bóng chuyền trong vòng tròn để giản gân giản cốt thôi. Một lát sau thì anh Lâm và anh Sử đến đề nghị chơi Ruck Zuck, trò chơi này phải chia ra hai đội, mỗi đội phải diễn tả một con thú, nhưng không được nói chuyện. Cứ mỗi một người diễn tả và một người phán đoán, nếu đoán được thì người đó phải diễn tả cho người kế tiếp. Đội nào đoán xong trước là thắng. Sau đó anh Sử lại đề nghị chia chúng tôi ra hai nhóm để phụ anh Bình sữa nấu ăn, một nhóm khác đi tìm cũi và dựng luới để chơi bóng chuyền. Bích và tôi tự nguyện vô nhóm đi lấy cũi và dựng lưới. Trong lúc chúng tôi dựng lưới lên thì có nhóm thiếu niên của GĐPT qua chơi, sau khi làm xong việc rồi chúng tôi rủ các anh chị chơi chung. Chúng tôi còn giao là đội nào thua thì phại cõng đội thắng từ đầu sân đến cuối sân. Vì thấy anh Điệp và anh Hưng chơi hay nên tôi lúc nào cũng chạy qua đội của hai anh, ngu gì mà cõng chứ ? Vì chơi rất vui và các anh chơi hay, hấp dẫn nên chúng tôi chơi cho tới giờ ăn trưa mới chịu nghỉ giải lao. Đồ ăn chay anh Bình và các chị nấu ai ăn cũng ngon miệng hết. Tôi thấy anh Bình hơi bị thiệt thòi, vì ai chơi gì thì chơi, lúc nào anh cũng đứng bên cái lò bếp, bởi vậy đi đâu mà có anh Bình thì khỏi sợ bị đói. Anh Bình chỉ thật sự an tâm đi bơi thuyền với chúng tôi sau khi đã 'phục vụ' xong bữa ăn cho tất cả anh em. Chúng tôi có hai ba cái thuyền bằng phao, mỗi cái chứa được ba hoặc bốn người, tôi ngồi chung với anh Dũng, anh Tiến và Tâm còn thuyền bên kia thì có anh Điệp, anh Hưng và Bích. Đáng lẽ chúng tôi định chơi đua thuyền, nhưng đua đâu không thấy, mới chèo được một khoảng sông thì mấy người ở thuyền phía bên kia bắt đầu tạt nước chúng tôi. Nước lạnh như vậy mà họ nỡ lòng tạt cho chúng tôi ướt từ đầu tới chân. Chúng tôi tức quá và dĩ nhiên phải tạt lại, chúng tôi vừa run lập cập vừa tạt nước cho đến khi họ cũng ướt hết cả người thì chúng tôi mới vui-lòng-hả-giận. Ai ngờ lúc đang chèo về bến thì anh Bình sữa từ đâu bơi tới và cho chúng tôi tắm nước lạnh thêm một lần nữa, tiếc một cái là anh đã bơi dưới sông rồi cho nên tạt nước lại anh cũng vô dụng thôi. Mấy chị đứng tên bờ thấy chúng tôi chơi bạo quá nên không dám bước chân lên thuyền nữa bước.
    Vì thấy thời tiết càng lúc càng lạnh nên chúng tôi không bơi thuyền nữa. Một lát sau thì các cô, chú, bác ghé tới thăm. Sau khi dùng cơm chiều xong thì chúng tôi vẫn không chịu ngồi yên và cùng nhau chơi những trò chơi đua rượt, những trò chơi này từ nhỏ tới lớn tôi chưa hề chơi qua, chắc mấy anh sưu tầm những trò chơi dữ lắm. Chúng tôi ra điều kiện là đội nào thua phải cõng, nhưng lần này không được may mắn như lần trước, tôi bị cõng nhiều hơn là được cõng. Khi trời gần tối, chúng tôi bắt đầu chơi những trò chơi vòng quanh ánh lửa trại. Khi các cô, chú, bác từ giã ra về thì trời cũng đã tối dần và cũng bắt đầu mưa nên chúng tôi quyết định vô lều lớn chơi tiếp.
 
    
   Trước tiên là có một cuộc tranh luận cũng như mỗi người nói lên những cảm nghĩ riêng của mình  về chủ đề 'hạnh phúc là gì?' Lúc ban đầu thì còn hơi nhút nhát nhưng từ từ thì cuộc nói chuyện rất là thú vị. Mỗi người có một nhận xét, một cách suy nghĩ và cái lý riêng của họ. Riêng tôi, vì tôi không có khiếu bày tỏ những suy nghĩ của riêng mình nên tôi chỉ ngồi đó và lắng nghe anh chị nói chuyện thôi. Trong lúc này tôi thấy các anh chị rất là chững chạc và có những suy nghĩ rất đứng đắn. Khi thấy càng lúc càng ít đề tài để nói nên chúng tôi đổi qua chương trình văn nghệ, từ nhạc trẻ tới hò và cải lương, loại nhạc nào cũng có hết. Tối hôm nay có tiếng đàn anh Triệu đệm với anh Sơn. Anh Bình thì ngâm mấy câu cải lương mùi mẫn, còn anh V. Thành thì hò những câu hò tiếu lâm có một không hai. Tôi được anh V. Thành hát tặng một câu hò nhớ đời: 'Hò ơi…thương Ty không biết để đâu, để trong lỗ mũi lâu lâu anh hách xì…' Không khí trong lều rất vui tươi, chúng tôi vừa ăn bánh vừa uống trà và hát hò tới hơn ba giờ sáng. Tôi tuy buồn ngủ rồi nhưng thấy vui quá nên cũng ráng thức với mọi người.
    Tuy hôm trước đi ngủ muộn nhưng sáng hôm sau 7:30 tôi đã dậy rồi. Vì thấy các người khác vẫn còn ngủ nên tôi nằm ráng tới 8:00 giờ mới chịu chui ra khỏi lều. Hôm nay không dùng điểm tâm với bánh mì nữa mà là mì gói, cũng nhờ anh Bình pha chế thêm vào những rau cải nên ăn rất ngon. Sau đó chúng tôi ngồi trò chuyện một lát rồi dọn dẹp. Ai làm được cái gì thì làm cái đó, tuy nhiều người nhưng dọn cũng lâu lắm mới xong. Chúng tôi xách đồ ra xe và lái xe về lại NPĐ sau khi thu dọn xong lều trại và đồ đạc. Mấy anh em ngồi giải lao một chút thì một lát sau anh Sử đề nghị làm một vòng tròn và anh nói mấy câu tạm biệt và những lời cám ơn cho sự góp mặt của chúng tôi, những người từ xa đến.
    Phải nói là chúng tôi cám ơn mấy anh ở München mới đúng, các anh đã cho chúng tôi một cơ hội để gặp bạn bè đồng hương, và trong ba ngày cắm trại này mấy anh lo cho chúng tôi rất là chu đáo, Anh Sử nói lời giã từ lúc này vì lo một lát sau còn rất nhiều việc, sợ không có cơ hội để nói thôi, chứ không có nghĩa là từ giờ phút đó là…đường ai nấy đi. Sau khi trao địa chỉ cho nhau để giữ liên lạc thì chúng tôi lên xe để tham quan thành phố München.
    Trước tiên các anh dẫn chúng tôi đến Englischer Garten. Chỗ này lớn lắm với nhiều phong cảnh rất đẹp bên cạnh dòng suối, nước trong xanh thật tươi mát như cây kem anh Lâm đãi ăn trước khi rời khỏi khu vườn để dạo trong thành phố một lần nữa trước khi các anh chị tiễn năm chị em chúng tôi ra nhà ga để về lại Salzburg.
    Thời giờ như thể tên bay, mới đó mà đã sáu tháng trôi qua. Hôm nay ngồi ghi lại vài dòng cảm nghĩ chắc cũng chưa nói hết những nét đẹp và hữu ích và nhiều kỷ niệm trong lần cắm trại này. Xin gởi lời cám ơn đến Gia đình Phật tử Chánh Tín và các anh chị đến từ Nürnberg, Berlin. Hẹn một mùa hè khác…đang tới.

KIỀU NAM
08.01.2000

Samstag, 16. September 2017

CẢM XÚC NGÀY VU LAN


    Vào 7 giờ sáng ngày 10.09.2017, chúng tôi gồm  5 anh em trong nhóm G7 đã có mặt ở Hội trường St. Vinzenz Pallotti nằm trên đường Hans Sachs Gasse để trang hoàng phòng lễ, căng banderole, dựng bàn thờ, sắp đặt chỗ, bàn ghế từ bên trong cho đến bên ngoài hội trường và cuối cùng là nhà bếp để chuẩn bị cho Đại Lễ Vu Lan, Phật Lịch 2561, sẽ được Đại Đức Thích Viên Duy, trụ trì chùa Pháp Tạng chứng minh diễn ra vào lúc 11 giờ. 
    Khoảng 8:30 giờ đã xong những phần chính nên đh. Viễn và Khải ở lại. Sĩ, Quân và tôi về trước để phụ giúp quý bà nội trợ đang còn nấu nướng ở nhà. Lúc mang thức ăn ra hội trường chừng 10 giờ thì có một số Phật tử Salzburg đã đến, rồi thấy anh chị Phương từ Tirol lên, quý đh. Loan & Cường, và Hương & Ân phụ xách giúp đồ nấu và ‘phụ tùng’ vào nhà bếp, trông mọi người ai cũng vui vẻ vì lâu quá không gặp dù ở chung một thành phố. Vào cửa chính thật bất ngờ gặp lại anh chị Tèo từ Linz xuống, tính lại thời  gian thì gần 20 năm mới hội ngộ nên thăm hỏi nhau rất nồng nhiệt. Cạnh cầu thang thấy anh chị Bảy đang trò chuyện với anh chị Hiếu và anh chị Quang cùng một số cô bác xa gần người nhớ kẻ quên. Khoảng 10:30 giờ ở khu vực gần quầy nước và cà phê khá nhộn nhịp khi Phật tử Salzburg đến đã khá đông, chúng tôi thấy các em và các cháu đang cùng mọi người phụ giúp nhà bếp hay ở quầy Buffet. Gần 10:45 giờ được tin chiếc xe Bus đưa Thầy và Phật tử Wien tham dự ‘chuyến hành hương’ thành phố Salzburg có chút trở ngại nên 11 giờ mới đến điểm hẹn. Khi cùng một số Phật tử đi ra hướng sân vận động cũ để đón phái đoàn, tôi gặp Giáo sư Phó Tiến sĩ Kurt Krammer đang trên đường đến hội trường, là khách mời của Khải và Mai Châu. Tôi có chút quen biết với ông Krammer vào niên khóa 1993-1994 khi hai cô con gái nhà tôi học lớp Giáo lý Phật giáo do ông giảng dạy cho học sinh tại Salzburg. Ở Áo, Phật giáo  được công nhận là một tôn giáo chính thức từ năm 1983 nhưng mười năm sau mới có lớp Giáo lý đầu tiên với 5 học sinh vào mùa thu 1993. Nhân chuyến thăm Áo quốc của Đức Đạt Lai Đạt Ma, Gs Krammer đã hướng dẫn nhóm học sinh Phật học của ông đi Graz để chiêm ngưỡng vị Phật sống vào cuối tháng 6.1995. Tôi chào ông Krammer vừa xong thì phái đoàn Phật tử cũng đang từ Tulpenstrasse đi tới. Thấy mọi người ai cũng tươi tỉnh chào hỏi dù ngày hôm qua tại chùa Pháp Tạng, Đại lễ Vu Lan cũng đã được tổ chức vào buổi chiều cùng với chương trình văn nghệ đến tối, vậy mà hôm nay về Salzburg vẫn rất thoải mái là điều hết sức vui mừng.
    11:25 giờ thầy Viên Duy cử hành Nghi thức Đại Lễ Vu Lan với khoảng 110 Phật tử về tham dự, trong đó có 2 Vùng phụ cận là Linz và Tirol. Riêng Đạo tràng Wien mỗi khi ở Salzburg có lễ thì Phật tử thủ đô thường ‘đóng góp nhân lực’ từ 1 hoặc 2 xe Bus, mà ấn tượng nhất là vào năm 2011, Đại lễ Vu Lan đã được tổ chức vào ngày 10.09 tại hội trường Laufenstrasse (hội trường nhỏ chỉ bằng một nửa so với lần này). Dù được ‘tin vui bất ngờ’ nhưng G7 vẫn chuẩn bị đầy đủ 180 phần cơm hộp để đón tiếp 2 xe Bus từ Wien xuống. Sau lễ, Ban tổ chức đã hướng dẫn phái đoàn đi tham quan thành phố. Năm nay chùa Pháp Tạng tổ chức chuyến đi cho 54 Phật tử, trong đó có một gia đình Phật tử Việt 4 người ở Hy Lạp trở về thăm Wien cũng đi theo đoàn. Có lẽ đây là lần đầu tiên thầy trò ngôi chùa mới làm chuyến vân du về một thành phố du lịch nổi tiếng ở miền tây nước Áo, nơi đó Đạo tràng Salzburg luôn nhiệt tình và hiếu khách. 
 
  Mỹ Uyên (Salzburg)
 
    Sau cử hành Đại Lễ Vu Lan là phần Thuyết Pháp, Nghi thức Bông Hồng Cài Áo và cuối cùng là phần văn nghệ gồm 6 tiết mục (Wien 4 & Salzburg 2) với những ca khúc về Mẹ trong Lễ Báo Hiếu đã khiến người nghe tuôn trào cảm xúc lúc Mỹ Uyên với bài ‘Phận Xa Cha Mẹ’ được cất lên cùng những tiếng nấc nghẹn ngào làm đứt quãng lời nhạc nhưng vẫn thiết tha qua tiếng đàn đệm của đh. Lê Tuấn. Cả trăm ánh mắt không rời cô giáo Uyên trên sân khấu khi nước mắt long lanh trong từng câu hát. Cả hội trường xúc động, không ai hẹn ai, cùng lau nước mắt…

Bé Trinh (Wien)
 
    Chương trình văn nghệ kết thúc lúc 13:15 giờ sau tiếng hát thật dễ thương của Bé Trinh, tiếp theo là mời quan khách và Phật tử dùng Buffet trước cửa hội trường. Hai chiếc bàn dài được ghép lại để có mặt bằng lớn đặt nồi cơm điện và những món chay của G7 và đồng bào Phật tử cúng dường: hủ tiếu xào, món kho thập cẩm, sườn chiên giòn & sả ớt, canh chua, tàu hũ dồn, mắm Thái (chay), rau xào, xôi vị, rau củ kho chay, mì căng sả ớt, gỏi, xôi, cà ri, cà tím um, bánh khoai mì nướng, rau câu trái cây, bánh tiêu...Riêng nồi bún bò Huế phải đặt trong bếp để giữ nóng nên Ban ẩm thực đã nhanh tay làm mỗi mâm khoảng 6 tô rồi đưa qua cửa thông từ bếp ra ngoài, cạnh quầy Buffet. Chúng tôi thấy quý Phật tử ai cũng thoải mái đứng chờ đến phiên mình, và đây chính là khoảnh khắc thật vui, thật đẹp khi mọi người chuyện trò thăm hỏi nhau trong một ngày lễ mà đôi khi ba bốn năm mới có một lần. 
 

     Bên cạnh quầy Buffet còn có một chiếc bàn nữa được dành độc quyền cho đh. Nguyễn Hồng Loan, một thành viên G7 giới thiệu  6 loại bánh ngọt và nồi chè (hình trên). Ngoài ra, đh. Loan còn làm 51 phần bánh cuốn được đóng hộp dành tặng phái đoàn Phật tử Wien để lót lòng trên đường trở về Chùa vào buổi chiều tối.
    Sau giờ ngọ trai, đại chúng tụng một thời kinh nữa rồi trở lại phần văn nghệ. Theo lời yêu cầu của thính chúng, Thầy Viên Duy đã trình bày hai bài hát, trong đó tôi chọn bài ‘Đêm Tụng Kinh Pháp Hoa’ nghe Thầy hát rất hay. Chương trình văn nghệ chấm dứt lúc 15:30 giờ, tiếp theo là chụp hình lưu niệm, trước khi chia tay bà con Phật tử xa gần và tiễn phái đoàn Wien lên xe Bus ra trung tâm tham quan thành phố Salzburg.
 
                   
 
   Trên đường trở về Wien, phái đoàn đã nghỉ chân trên xa lộ lúc trời chưa tối để thưởng thức món bánh cuốn Nguyễn Hồng Loan. Xe Bus đưa phái đoàn Phật tử Wien về đến Chùa bình an lúc 21:30 giờ cùng ngày.
     Sau Đại lễ Vu Lan, BTC nhận được nhiều lời ngợi khen thân tình. Thay mặt Phật tử Salzburg, chúng tôi xin nhận tấm lòng ưu ái của quý vị về một Ngày Vu Lan với nhiều cảm xúc nhưng chắc không tránh khỏi sơ sót, xin niệm tình tha thứ cho.
 
NSL
Sbg, 16.09.2017

Freitag, 1. September 2017

NGÀY EM TUỔI TRĂNG TRÒN



Em áo trắng nón bài thơ guốc gỗ
Mái tóc thề vương mãi bút sách tôi
Hàng mi cong vun vút nét rạng ngời
Em lộng lẫy như vầng trăng mười sáu.

Em và tôi chỉ cách nhau hàng dậu
Lá vàng rơi hai đứa nhặt hai vườn
Cùng ngắm đôi chim nhẹ nhàng cánh đậu
Và cùng nghe nhịp đập của uyên ương.

Sáng tinh mơ tiếng học bài giòn giã
Tôi say mê như khúc nhạc nghê thường
Em đi học gót chân hồng thư thả
Tà áo bay rung hoa cỏ bên đường.

Tôi đứng đợi những trưa về nắng đổ
Cổng trường em vôi tím đã phai màu
Tôi muốn nắm bàn tay xinh rất nhỏ
Lá thu rơi xin em chớ đi mau.

Em thơ thẩn đêm trăng nhà thanh tịnh
Mùi hoa lan ngào ngạt tỏa chung vườn
Tôi ao ước một lần thôi, nhất định
Được hôn em trong giấc mộng yêu thương.

Em đẹp quá giữa mùa trăng mười sáu
Áo học trò thơm mãi cả ngàn sau
Tôi xin lượm lá vàng phơi trước ngõ
Để trọn đời hai đứa sống bên nhau.

NGUYỄN SĨ LONG
Thu 1990

Freitag, 25. August 2017

CHÂN DUNG MẸ


 
    Có thể nói ở đất nước chúng ta, Phật giáo là một tôn giáo của đại chúng, đã ăn sâu trong lòng dân tộc có tinh thần hiếu đạo từ ngàn xưa. Vì vậy vào những ngày lễ hội như Mùa Vu Lan, ngày nay không chỉ dành riêng cho những người con Phật, mà đã là ngày hội chung cho cả mọi người Việt nam.
    Là người Phật tử, mùa Vu Lan Báo Hiếu là một dịp và cũng là một quãng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng rất quý báu nếu không muốn nói là rộn ràng và háo hức để chúng ta nhớ về mẹ, nghĩ về mẹ và đây cũng là cơ hội mỗi năm có một để tỏ lòng hiếu thảo với mẹ cha.
    Sẽ là ý nghĩa hơn nữa, trang trọng và thân tình hơn nữa khi cùng với thiện nam tín nữ tham dự nghi thức Cài Hoa Hồng trong ngày Đại Lễ Vu Lan để có được những giây phút lắng lòng dành cho mẹ. Dù vui hay buồn khi một màu hoa được cài trên áo, chắc chắn trong tâm thức của mỗi người tham dự đều có sự cảm nhận thật ấm áp của tình mẹ con. Và cũng chính trong ngày Lễ Báo Hiếu long trọng này, những trái tim đều hướng về mẹ của mình, để cùng thổn thức và cất cao lời tri ân Đấng Sinh Thành.
     Hoa Hồng Trắng dịu dàng dành cho những ai đã không còn được cha mẹ cận kề hôm sớm.
    Hoa Hồng Đỏ cho những người may mắn còn mẹ, còn cha. Xin hãy trân trọng niềm vui sướng của mình.
    Nghi thức Cài Hoa Hồng cho chúng ta một không gian mà mọi người có chung một niềm suy nghĩ về Mẹ! Cho dù ở lứa tuổi nào đi nữa cũng đều cảm thấy hạnh phúc để nhớ lại những kỷ niệm khi còn thơ ấu như đã cùng mẹ vui đùa hay đã được mẹ dẫn đi Lễ Chùa nhằm vào Mùa Vu Lan, hoặc khi đã khôn lớn trong mái ấm gia đình. Đó là những ngày tháng thật êm đềm được sống bên mẹ và lớn lên trong từng bước chân chuẩn bị vào đời.
    Khi nhắc đến mẹ, nhớ về mẹ thì bất kể chúng ta là ai, không phân biệt tuổi tác và địa vị trong xã hội, tất cả đều bỗng trở nên nhỏ bé như thuở còn thơ dại nằm lọt trong vòng tay ấm áp cùng lời ru ngọt ngào chan hòa tình thương yêu của mẹ:
Chín tháng cưu mang hai mươi năm nuôi dưỡng
Con ra đời trong tổ ấm tình thương
Ở quanh con không có bốn mùa thay đổi
Chỉ một mùa xuân bên tay mẹ, mảnh vườn.
    Không phải ai cũng có may mắn sống cả cuộc đời gần gia đình. Bởi vậy nếu có dịp đi xa, mới thấy quý những ngày trở về thăm mẹ vì chẳng biết phải cần bao nhiêu thời gian để bù đắp được những tháng ngày xa cách.
     Nhưng với tâm tình bao lâu ấp ủ và mong đợi chắc sẽ không ngăn được cảm xúc, để qua đó thấy và hiểu được lòng mẹ nuôi con như biển trời lai láng, những lúc ốm đau mẹ chính là người thầy thuốc tuyệt vời, thức suốt đêm với con, và cả cuộc đời vì con:
Mẹ đút cho con từng miếng cơm muỗng cháo
Thức suốt đêm khi con sổ mũi nhức đầu
Mẹ đan cho con từng bao tay chiếc áo
Bên cuộc đời dù trăm nỗi bể dâu.
    Khi ta có lòng thương kính với mẹ thì chính là lúc ta hình dung được hình ảnh thiêng liêng của mẹ đã biểu hiện khi con vừa mở mắt chào đời, cho đến những năm tháng nuôi nấng dạy dỗ ta nên người.
    Với niềm cảm thông là khi lớn khôn lớn có gia đình, có nuôi con thì mới biết đêm dài và hiểu được những hy sinh của mẹ từ khi còn ấu thơ cho đến trưởng thành là cả một hành trình dường như vô tận với nhiều nhọc nhằn và đôi khi còn có cả nước mắt:
Mẹ dạy cho con từng lời nói bước đi
Mẹ dạy cho con cầm cây bút chì
Mẹ dạy cho con vòng tay kính cẩn
Cúi đầu chào thưa gởi mỗi lần đi.
    Trong cuộc sống của chúng ta có rất nhiều người để thương yêu và quyến luyến, nhưng mẹ là hình ảnh đẹp nhất và vĩ đại nhất trong tâm hồn của chúng ta.
    Không ai có thể nói hết, diễn tả hết những điều tuyệt vời về một người mẹ.
    Không ai có thể hiểu hết công khó và nghị lực của một người cha.
    Đời sống sẽ mang lại nhiều ý nghĩa cao đẹp hơn chừng nào chúng ta luôn là một người con hiếu thảo để đền đáp Ơn Nghĩa Sinh Thành:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là Đạo con.

NGUYỄN SĨ LONG

Donnerstag, 17. August 2017

CÔ BẠN NHỎ NGƯỜI DƯNG


    Cuộc hành trình về Việt Nam làm từ thiện của gia đình “Chân Quê” bắt đầu vào mùa Chay năm 2016 (theo lịch người Công Giáo); lần này chúng tôi cũng bảo trợ từ A đến Z cho cựu Thủy Quân Lục Chiến Brad Bennett (tham chiến trong thập niên 60) cùng hai người con trai của ông: Tony và Andy Bennett đi cùng.
    Trên đây là lời mở đầu cho một bài viết đăng trên Việt Báo của tác giả DBN về Những Người Con Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ thăm Việt Nam và Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa. Xin trích: “Mục đích là cho thế hệ con cháu của Vietnam Veteran thăm lại vùng Cồn Thiên, Quảng Trị và thị trấn Dạ Lê, Thừa Thiên, Huế; nơi thân phụ của họ cùng các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã từng đổ máu, mồ hôi, chết trận hoặc bỏ lại một phần thân thể nơi chiến trường; cho chúng cảm về khí hậu nóng cháy da người cùng môi trường vô cùng khắc nghiệt tại miền Trung (vùng đất cày lên đá sỏi). Đồng thời, gia đình “Chân Quê” hướng dẫn chúng đi làm từ thiện, trao hiện kim, quà bánh đến các thầy cô, bảo trợ học bổng và mua tặng bàn ghế, dụng cụ học sinh cho trường Nguyễn Tri Phương cũng như dẫn chúng đi thăm từng nhà dân thuộc Ấp Chính An, Phong Chương, Phong Điền, Huế. Những chỗ khi xưa đầy xác lính, xác người già, trẻ em, mênh-mông chất-chồng bên lũy tre làng, trên những cánh đồng xanh nhuộm đỏ máu chiến tranh.  Nơi mà ngày nay người dân quê vẫn dùng trâu để cầy bừa, trẻ em đôi khi không có giầy dép mang đi học. Nơi chưa có những tòa nhà, hotel, resort, các quán nhậu, karaoke, tiệm cà phê trá hình hay các tụ điểm trác táng ăn chơi chen chúc xô bồ,  mất trật tự như ở phố thị tại Hà nội hay Sài gòn bây giờ. 
    Gia đình “Chân Quê” tặng nửa triệu Vietnam Đồng cho từng nhà dân nghèo tại Ấp Chính An, Phong Chương, Phong Điền, Huế. Cuối tháng 2.2016”.
    Ấp Chính An hay làng Chính An nói ở trên là quê tôi, nơi Tổ tiên Ông bà đã lập nên một dòng Họ Nguyễn lâu đời, cách Huế về phía bắc chừng 40 km. Sau 1975 cho đến nay, cuộc sống ở những vùng nông thôn xa thị thành vẫn còn khó khăn, nên nhiều gia đình đành phải rời bỏ quê lên tỉnh hay xuôi Nam sinh sống. Có lẽ làng Chính An đến nay vẫn còn là một trong những ‘địa danh thời hậu chiến’ nên đã gây được sự chú ý của gia đình Chân Quê và hai người con Cựu Thủy Quân Lục Chiến, ông Brad Bennett. Chuyến đi này đã mang đến một dịp may hiếm có cho bà con làng Chính An khi nhận được sự giúp đỡ của gia đình Chân Quê ở tận bên Mỹ. Riêng tôi chỉ đọc qua bài viết nhưng đã rất xúc động vì có sự trùng hợp quá bất ngờ khi nhớ đến giai đoạn cao điểm của làn sóng người vượt biển 30 năm trước ở các trại Tỵ nạn Đông Nam Á là Pulau Bidong, Galang và Palawan. Lúc đó, ngoài sự giúp đỡ của Cao Ủy Tỵ Nạn cùng các quốc gia cũng như những tổ chức, hội đoàn và cá nhân trên thế giới, còn có một nữ thuyền nhân rất kín tiếng về những món quà tinh thần quý báu được gởi từ Australia đến các trại Tỵ nạn mà cho đến nay tôi vẫn còn nhớ.  
    Thuở đó tôi ở trại Tỵ nạn Palawan đã được 14 tháng, một hôm nhận lá thư được gởi từ Victoria, Úc đề ngày 01 tháng 8 năm 1988: “Thưa anh Trưởng ban, tôi đã nhận được thư anh và thư Bích Hồng báo đã nhận được các số báo Xuân mà tôi đã gởi. Nay tôi xin gởi tiếp một số nhật báo ở Úc và một tập thơ của nhà thơ Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn), cũng như các anh bên Cựu Quân Nhân có gởi tặng phòng TTVH tờ báo của gia đình CQN tại Melbourne, Úc Châu. Xin anh và các bạn đừng ngại liên lạc để tôi có điều kiện giúp đỡ đồng bào tại trại Tỵ nạn Palawan về gởi báo chí cũng như băng nhạc để ‘truyền thông văn hóa’ Việt Nam tại hải ngoại. Nếu anh được đi định cư ở Đệ tam quốc gia thì xin nói lại với người thay anh đừng quên liên lạc với tôi để nhận báo chí cũng như các tài liệu để phát thanh. Tôi hy vọng Giáng Sinh năm nay sẽ ghé thăm Palawan của anh và đồng bào mình bên đó. Thân ái, BN.”
    Tôi viết thư cám ơn về gói bưu phẩm và sau đó vào tháng 10 lại một lần nữa nhận được hai băng nhạc và một số tài liệu cho dịp Giáng Sinh và Xuân cùng với lời nhắc về Hội CQN Palawan chưa gởi danh sách hội viên cho Hội CQN Úc châu. Sau vài lần thư đi tin lại, chúng tôi rất cảm kích trước sự giúp đỡ nhiệt tình của ‘cô gái tốt bụng’, dù chưa gặp nhưng vẫn giữ mối giao hảo qua thư từ để biết thêm tin tức liên quan đến vấn đề tỵ nạn thì được BN tâm sự: “Nghe anh kể về những sinh hoạt của trại rất Việt Nam tính làm tôi thật nhớ những ngày còn ở Bidong và Sài gòn. Hơn 7 năm xa xứ, tôi hoài nhớ một thứ tình quê hương cố hữu của người mình, đó là một lý do tại sao tôi muốn sống một phần cho những người Việt còn ở các trại Tỵ nạn chưa đi định cư. Cuộc sống đôi lúc có những lúc tuyệt vọng cùng cực với sự chán ngán nơi xứ người xa lạ, nhưng khi nghĩ lại đồng bào mình đã hy sinh cả mạng sống để ra đi thì tôi lại cố gắng đứng lên mà bước tới. Từ khi liên lạc được với Bích Hồng, tôi đã hân hạnh làm quen với đồng bào mình ở Palawan, còn ở Bidong và Galang tôi vẫn làm ‘bổn phận nhỏ mọn’ là gởi những món ăn tinh thần thường xuyên qua bên đó”.
    Hình như BN cũng có chú ý đến trường hợp của tôi là đơn lẻ và hiện chưa có nước nào nhận nên đã có lời khuyên: “Anh ở Sài gòn mà ở đâu vậy? Chị và hai cháu còn bên nhà ư, sao anh ‘quá dại’ khi đi có một mình? Tôi hy vọng khi anh được định cư thì việc đầu tiên là phải lo việc bảo lãnh cho gia đình anh nhé. Anh biết tại sao không, ở đây rất nhiều thảm cảnh: vợ đi trước, chồng ở lại hoặc chồng đi trước vợ ở lại thì khi ra ngoại quốc họ phản bội nhau thật cấp kỳ, chừng khi người ở bên nhà trốn qua sau rồi sinh ra hận thù thật nhiễu nhương! Anh nên nghĩ đến và chú trọng vấn đề định cư của anh hơn, đừng bỏ cuộc. Nếu cần tôi giúp gì được tôi sẽ giúp, anh nghĩ sao?”
    Cũng nhờ những dòng thư qua lại nên mới biết BN là cựu học sinh Trưng Vương, gia đình bố mẹ và anh chị còn ở Tân Định Sài gòn, là cựu thuyền nhân trại Bidong trước khi sang định cư ở bang Victoria, Úc vào năm 1981. Đây cũng là năm BN đón cái Tết Việt nam đầu tiên khóc đến sưng cả mắt vì chẳng thấy gì gọi là Tết cả, và trong thời gian buồn khổ nhất này, cô đã sáng tác hai bài Tỵ nạn ca (1 và 2). Cô đã có một thời gian làm ở hãng may mặc rồi đi hát như là một Job qua nhiều tiểu bang nước Úc: Sydney, Adelaide, Brisbane, Tasmania và Melbourne cho đến khi lập gia đình vào tháng 2.1987 thì giảm bớt, thỉnh thoảng mới đi hát cho cộng đồng, party, đám cưới và bạn bè. Cũng chính trong môi trường văn nghệ mà cô đã gặp vị phu quân tương lai đến từ Japan trong một buổi Concert vào mùa hè 1985, quen nhau hơn một năm rồi làm đám cưới, hiện giờ chưa có baby vì còn đi du lịch nhiều. Điều làm tôi chú ý và mến phục là sự nhiệt thành của người phụ nữ đã có gia đình khi một mình dấn thân vào công tác thiện nguyện với sự khiêm nhường và kín đáo thì không phải ai cũng làm được. Bởi vậy nên ít nhiều tôi cũng đã có sự tò mò muốn biết ‘nàng là ai’ khi mỗi lá thư từ Victoria đến như là niềm vui thư tín: “tôi đang viết tập truyện ngắn lấy tên là ‘Những khúc quanh đời Tỵ nạn’, bút hiệu của tôi là Bê En và Ngày Xưa Trần Thị. Cuộc đời thật sự như là một quyển truyện dài với nhiều tình tiết éo le, tôi thích viết để ghi lại một khoảng nào cái thực của đời sống mình, cũng như anh thích sáng tác thơ để nói lên cái uẩn khúc của tâm hồn. Tôi nghĩ những người có chút máu nghệ sĩ trong người thì dễ thông cảm nhau. Bởi vậy theo tôi thì anh và các bạn khi còn ở trại cần sáng tác nhiều hơn nữa vì anh phải biết là khi đi định cư khó mà còn tâm hồn để sáng tác vì bị biến chất theo đồng đô la nhanh vô cùng”.
    Tôi cảm thấy phân vân vì bị quyến rũ về lòng tốt và sự nhiệt tình của cô gái thật quá bất ngờ, rồi trong vài hôm sau đó có tin hồ sơ xin định cư của tôi đã được chấp thuận và chỉ hai tuần nữa là sẽ lên đường. Đây là sự may mắn được chờ đợi từ lâu nhưng đã làm cho ngày chia tay thêm ngậm ngùi, bịn rịn kẻ ở người đi, biết bao giờ mới được gặp lại nhau? Trước ngày đi tôi báo tin mừng cho gia đình, người thân và một số bạn bè. Riêng với BN, tôi gởi thêm hai bản nhạc sau khi biết là một số bài thơ tôi kèm trong lá thư trước đã được BN gởi cho báo Chuông Sài gòn ở Victoria, cô viết: ‘rất vui khi được làm người giới thiệu thơ anh đến độc giả Úc châu, anh nhớ gởi tiếp nếu có những sáng tác mới’.  
    Tôi đến Wien vào mùa đông tuyết lạnh giữa tháng 12.1988 nhưng mãi đến tháng 3.1989 mới nhận được thư đầu tiên của BN khi đang ở trong trại Tỵ nạn. Có ai ngờ trên bước đường phiêu bạt, ngoài gia đình để hướng đến một ngày mai đoàn tụ, thì BN như bóng hồng thấp thoáng đã mang đến những dòng thư ấm áp tình người không khác gì được gặp lại bạn cũ nơi quê hương thứ hai. Có lẽ BN hiểu được tâm trạng của tôi lúc đó nên sau khi đọc xong lá thư mới nhất trên miền đất còn xa lạ này, tôi lại càng trân trọng hơn về những ưu ái mà cô đã dành cho tôi khi viết: “Biết anh buồn và bỡ ngỡ với cuộc sống mới nên thư liền, ưu tiên cho ‘cựu sinh viên’ đấy nhé…Hôm nhận thư anh báo rời trại gặp lúc tôi quá bận rộn với những công việc cuối cũng như đầu năm. Phần tổ chức văn nghệ, dạ vũ, đại nhạc hội; phần các Hội đoàn ở đây mời đi hát tứ lung tung. Rồi bây giờ tôi lại nhận làm việc cho chính phủ nữa, Job này gọi là ‘Children’s Services Officer’. Anh biết tôi phải làm gì không? Sáng 9h phải có mặt ở văn phòng, điện thoại để make appointment với mấy cái nhà trẻ rồi đến nói chuyện với họ để xem việc học hành của trẻ con Việt Nam mình đến đâu. Rồi cả ngày tôi phải đến những vùng đông dân Việt Nam cư ngụ để phỏng vấn họ. Cuối tuần phải viết Report để gởi lên Government nữa. Rồi phải dẫn Ban nhạc đi hát đám cưới bạn bè (mùa này người ta cưới nhau nhiều quá).Tôi ước ao phải chi anh ở Australia chớ không phải Austria thì anh sẽ share công việc văn nghệ cho tôi có tốt hơn không? 
    Từ bất ngờ này cho đến ngạc nhiên khác, cô gái có tên BN giờ đây không còn là nữ thuyền nhân bình thường như tôi nghĩ nữa. Những điều được cô kể ra như có một thời gian ‘buồn khổ nhất’ nên hai bản nhạc Tỵ nạn ca đã ra đời và đi hát trên khắp nước Úc thì không phải là ca nhạc sĩ hay sao? Rồi còn viết lách nữa thì ít nhiều cũng có duyên văn nghệ cho đến những việc tổ chức dạ vũ, đại nhạc hội hoặc dẫn cả ban nhạc đi hát đám cưới bạn bè hay cho hội đoàn…thì cũng đã là người của công chúng. Chưa kể nay lại làm việc cho chính phủ nữa thì đôi lúc tôi phải tự hỏi: Cô ấy đã lấy thì giờ ở đâu cho gia đình và lo chuyện tiếp tế sách báo giúp các trại Tỵ nạn? Trong các công việc mà BN vừa kể, tôi thích nhất là đến những khu đông dân cư người Việt để phỏng vấn và viết Report, đó là nghề phóng viên, nhà báo. Tôi đã mơ ngành này thời còn trung học nhưng hầu như suốt cả cuộc đời chưa một lần có cơ hội, và lần này cũng vậy, ước ao của BN lại một lần nữa làm tôi bần thần như giấc mộng đẹp nhưng khó thành.     
    Cuối tháng ba tôi được anh Vũ Văn Hùng đón về thành phố Linz, lần đầu tiên trên xứ người đi làm được nửa tháng thì thất nghiệp. Đến giữa tháng 5.1989 lại được người quen rủ nên về Salzburg, chỉ vài tháng sau đó đã  hoàn tất thủ tục bảo lãnh gia đình khi hội đủ điều kiện về nhà cửa và công ăn việc làm. Thấy yên ổn ở một thành phố có nét cổ kính giống Huế nên đã chọn nơi đất lành chim đậu cho đến bây giờ. Có điều là chỉ chừng một năm sau khi rời Palawan, vì thay đổi chỗ ở đến ba lần nên đã mất dần liên lạc với hầu hết bạn bè và người quen, nhưng tôi vẫn còn may mắn khi được BN hỗ trợ tinh thần từ sách báo, băng nhạc và lần đầu tiên được đọc một sáng tác của BN ‘Như vẫn còn mùa xuân’ (trích trong Những khúc quanh đời Tỵ nạn), cho đến những lá thư thường bắt đầu với dòng chữ: ‘BN quá bận rộn…’ nhưng rồi chẳng những không quên người bạn ở trời Tây mà còn an ủi, khuyên lơn và thăm hỏi về chuyện bảo lãnh, sinh hoạt, đi làm, khí hậu...và cũng có lần gợi ý là nếu thấy ở bên đó khó khăn và buồn tẻ thì nên tìm cách đi nước khác như Mỹ hay Úc chẳng hạn…nhưng ‘trước hết thì phải có nghị lực hơn nữa, có gì ưu tư thì san sẻ, đừng nản chí vì ít ra anh cũng còn một nhỏ bạn (người dưng) bên này’.

 
Elvis Phương & Bê En

     Cũng nhờ cô bạn nhỏ người dưng mà tôi biết được một số sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Úc trong nhiều lãnh vực có BN tham gia. Về văn nghệ thì trong tháng 3.1989, Ban nhạc Uptight sang Úc với Elvis Phương, Khánh Hà, Thanh Tuyền và Anh Tú. BN khen Uptight chơi ‘sạch và perfekt’ vô cùng với 2000 khán giả Việt tham dự. Cũng nhờ có đêm văn nghệ này mà lần đầu tiên tôi được thấy cô bạn nhỏ xuất hiện trong tấm hình chụp chung với ca sĩ Elvis Phương mà cô gởi tặng. Sau đó là những ngày lễ lớn hàng năm đã mang lại cho BN sự bận rộn đến tắt thở trong tháng tư với Văn nghệ Quốc Kháng, Giỗ tổ Hùng Vương và bầu lại Ban chấp hành Cộng đồng Người Việt Tự Do tại Victoria. Sau nữa là việc Sở, việc nhà cùng với ‘đứa con tinh thần’ cần được chăm sóc mà một ca sĩ như BN phải nghĩ tới là cô nàng đang thu một cuộn băng gồm những bài hát xưa và nay được thích nhất, chậm lắm thì một hai tháng nữa tôi sẽ nhận được tape nhạc này.
    Trong thư tháng 5 BN cho biết là tập truyện ‘Những khúc quanh đời Tỵ nạn’ đang gặp ‘khúc quanh’ vì hình bìa đang nhờ hoạ sĩ Vi Vi vẽ giúp, một phần cũng vì quá bận rộn nhưng bù lại đã sáng tác thêm Tỵ nạn ca 3 vừa xong là có cơ hội hát ngay cùng với bài ‘Thuyền em trên Biển đông’ (Thơ NSL, Nguyễn Huy Thanh phổ nhạc) trong Chương trình ‘Tiệc Họp mặt của Ủy ban Yểm trợ Quốc tế cho Người Việt Tự Do của Ls Nguyễn Tấn Sĩ và một số Luật sư ở Victoria. Một việc khá quan trọng khác mà cô đã và đang làm là tổ chức một số Show văn nghệ, dạ vũ, quyên tiền cho chương trình định cư của người Việt Tỵ nạn tại Canada. Bước qua tháng 6 BN bận đến muốn nín thở luôn vì đang làm cái ‘survey’ về tình trạng trẻ con Việt Nam không đến trường vì hoàn cảnh hay vì gia đình…rồi họp hành, các hội đoàn và bận nhất là chương trình Tuần lễ Tỵ nạn, kế đến là ngày Quân lực 19.6 và có thêm gia đình Hải quân nhờ tổ chức dạ vũ, tiếp tân. Đến đây thì cô ấy không còn nói BN quá bận rộn…như thường lệ mà than: ‘Ông Trời thật bất công khi ban cho anh một cuộc sống quá nhàn rỗi đến mức độ buồn chán còn BN thì lu bu với trăm công ngàn việc, thật là unfair’. Tôi rất cảm động với lời ‘than oán’ của cô ấy, tuy bận rộn nhưng đôi lúc cũng có khoảng trống ở Sở làm để viết thư thì quả thật là rất quý giá. Tôi rất thích đọc thư BN vì cô ấy viết với tâm tình tươi trẻ và sống động, đề tài chính là những Jobs mà cô đang làm, được tác giả đưa người đọc từ bàn làm việc cho đến nhà trẻ, trường học, công sở, bệnh viện, sân khấu, cùng với những khuôn mặt cộng đồng lính cũng như dân hay những buổi họp hành, bầu bán cho đến các trại Tỵ nạn và những khu đông người Việt sinh sống. Mỗi lá thư là một hoạt cảnh đầy màu sắc như thế thật sự nơi tôi đang sống không có. Qua đó mới thấy là khả năng tác nghiệp của cô bạn nhỏ người dưng thật tài tình và bản lãnh của người phụ nữ trẻ tuổi nhưng luôn sẵn lòng phục vụ đồng bào Tỵ nạn. Cùng trong thời gian này, BN cho biết đã nhận rất nhiều thư Palawan mà không có thì giờ để đọc nên đã chuyển hết cho anh Nguyễn Hưng Đạo là trưởng gia đình CQN giúp. Riêng cá nhân tôi thì đã liên lạc với Hội CQN Palawan qua anh Nguyễn Cư từ lâu về việc lập danh sách, còn BN thì đã nhờ hội CQN ở Úc liên lạc và vận động với hội Cựu Chiến Binh Úc để làm bảo lãnh cho các anh em CQN tại Palawan.
    Tháng 9 nhận được thư đề ngày 11.08, đây cũng là lá thư cuối của năm 1989 và lần này không phải BN rất bận mà…bệnh. Mọi công việc dồn lại vì phải nằm viện và về nhà an dưỡng một tuần lễ rồi sau đó chỉ còn một tuần nữa thôi là đến Đại nhạc hội sẽ diễn ra vào ngày 19.08 với sự góp mặt của các ca sĩ Giao Linh, Tuấn Vũ, Sơn Ca, Ngọc Lan từ Mỹ và Canada sang. Họ nhờ BN làm Speaker và hát nhưng còn tùy vào sức khỏe. Ngoài ra có thêm một tin quan trọng nữa là sau kỳ họp vào ngày 13 và 14.6 vừa qua ở Genève, Cao Ủy LHQ đã quyết định số phận Tỵ nạn Việt Nam quá rõ ràng. Dù vậy ‘BN và một nhóm thân hữu đang hết sức cố gắng vận động chính phủ nhận thêm người tỵ nạn đến sau ngày 14.6.1989, đang chờ trả lời. Phải vận động họp hành, đến gặp những nhân vật trong Bộ Di trú. Phức tạp và rối như tơ vò nhưng vẫn phải làm vì đau lòng lắm khi thấy người Việt Tỵ nạn phải điền đơn ký tên để trở về VN tại các trại Đông Nam Á. Vấn đề này cũng làm BN suy nghĩ thật nhiều nên ông xã nói: ‘sao em cứ lo chuyện Social bao đồng không vậy?’ Do đó mà đã có lúc bị cấm không được lo lắng nhiều quá chuyện thiên hạ vì bác sĩ dặn tránh những suy nghĩ thì tốt nhất… Rồi cuối cùng đâu cũng vào đó’.
    Tháng 4.1990 tôi dọn đến căn nhà được chính phủ cấp ở Liefering, Salzburg. Lòng mừng vô hạn khi nghĩ tới vợ con đoàn tụ sẽ có nơi ăn chốn ở ổn định, rồi một tháng sau đó nhận được thư nhà báo cho biết là hồ sơ bảo lãnh đang xúc tiến tốt đẹp, thêm một niềm vui nữa là có thư BN sau 5 tháng cô bé im hơi lặng tiếng làm tôi lo lắng không biết chuyện gì đã xảy ra ? Đã có lần BN nói, cô rất sợ những tháng cuối và đầu năm vì luôn bận rộn. Năm nay cũng vậy, sau hai ngày Hội chợ và Văn nghệ thành công thì vào cuối tháng 2, cô cũng vừa viết xong truyện ngắn ‘Cô giáo Uyên’ là gởi  ngay, với ngụ ý là dành cho tôi sự ngạc nhiên khi một ‘busy girl’ như BN mà vẫn có thì giờ để sáng tác. Phải nói BN rất đa tài và nghệ sĩ tính cộng thêm một chút lãng mạn nên cô rất khéo léo dựng bố cục câu chuyện thật hấp dẫn. Bài ‘Cô giáo Uyên’ sau đó được tác giả cho phép, tôi đã gởi cho Nguyệt San Độc Lập ở Đức và được đi trong số 7/90 ra ngày 06.08.1990 với bút hiệu Ngày Xưa Trần Thị, BN rất vui khi cũng nhận được số báo này ở Úc. Đến đây thì cô bạn nhỏ hình như đã quên rồi những ngày lễ hội mệt nhọc để nhận thêm một Job nữa, đó là cộng tác viên ở Đài phát thanh do Nhóm Việt Nam thiện nguyện phụ trách, mỗi tuần 3 lần (2,4,7), mỗi lần 1 giờ để phát thanh cho đồng bào mình nghe, có đông thính giả vì đây là một nhu cầu rất cần thiết cho người Việt. Hiện Nhóm đang vận động xin thêm một số giờ trên Đài truyền hình Sắc tộc, đang được đồng bào ủng hộ. Lúc đọc tin này tôi có phần e ngại về vấn đề sức khỏe vì cô ấy đã có quá nhiều công việc như lời cảnh báo của ông xã vài tháng trước. Nhưng đến lá thư nhận vào tháng 7.1990 thì tôi lại rất ngạc nhiên khi BN cho hay đang đi học trở lại, năm thứ nhất ngành Multicultural và Social Worker, thuộc đại học La Trobe University, tiểu bang Victoria. Chương trình học 15 tiếng 1 tuần (lớp chiều và tối), trong thư nghe cô tân sinh viên rên như sấm nhưng đã trải qua 4 Essays, mỗi Essay 2000 chữ và Exam trong lớp cho 3 Units là vừa xong học kỳ 1. Đến thư đề ngày 13.11.1990 cô lại hoan hỉ báo tin: ‘Sorry vì quá bận rộn, BN đã qua các kỳ thi, thế là xong năm thứ nhất. Nghỉ hè nhưng vẫn còn đi làm với hàng ngàn công việc xã hội, tỵ nạn chất chồng đang chờ’. Nghe đến chuyện học hành tôi ủng hộ ngay, vì cách đây 15 năm mình đã từng dang dở chuyện sách đèn ở quê nhà, rồi cho đến ngày được đi định cư ở nước thứ ba, thì Áo không phải là môi trường phù hợp cho những ai muốn thăng tiến trên đường học vấn như ở Mỹ, Canada hay Úc mà BN đang theo đuổi. Dù sao tôi cũng vui khi có phút giây nhớ về khung trời cũ, để mừng và chúc cho cô cựu nữ sinh Trưng Vương ngày nào thừa kiên nhẫn đi đến cuối con đường đã chọn. Trong lá thư cuối năm này, cô còn báo thêm một tin vui nữa về lễ Kỷ niệm 10 năm thành lập Sở làm Vicseg, được tổ chức vào ngày 1.11 có Minister Education xuống nói chuyện trước 200 người tham dự với phần văn nghệ do BN phụ trách đã thành công tốt đẹp, mọi người ai cũng ngạc nhiên không ngờ văn nghệ Việt Nam hay đến như vậy. Đích thân ông Minister cũng có lời khen tặng BN, còn bà Boss thì khoái chí cho cả bọn đi ăn trưa vào ngày hôm sau.
    Đó là những dòng chữ rất hào hứng của BN để kết thúc một năm tuy mệt nhọc nhưng tràn ngập niềm vui cùng những dự tính cho năm tới. Nhưng chừng hai tháng sau đó, lá thư đề ngày 15.01.1991 quá sức bất ngờ với tin chẳng lành: ‘BN ly thân với ông xã đã 2 tháng nay, chờ 10 tháng nữa mới ra tòa xé hôn thú. BN đã dọn ra apartment ở riêng, vẫn đi làm và tháng 2 sẽ đi học trở lại. Đời sống phải làm lại từ đầu với tư cách của một independent. Chắc anh ngạc nhiên lắm khi mà BN không có hạnh phúc với cuộc hôn nhân này! Sorry vì thư này đến anh quá trễ, cũng như mang chuyện không hay để kể anh nghe. Thôi thì hãy cứ vui như mọi ngày anh Long nhỉ ! Buồn quá, không viết dài được, thông cảm nhé. Luôn chúc anh tìm thấy được niềm vui và nhiều nghị lực trong cuộc sống hiện tại.’ 
   Đây cũng là thư cuối cùng tôi vẫn còn giữ được đến nay đã 26 năm, như là những dòng lưu bút thân tình của Cô Bạn Nhỏ Người Dưng đã dành cho một cựu thuyền nhân tỵ nạn xa nhà, với tấm lòng luôn trân trọng và tri ân.
 

NGUYỄN SĨ LONG
Salzburg, 15.08.2017

Freitag, 11. August 2017

LỤC BÁT MÙA THU

 Ảnh Internet
                    

Gởi Ngày Xưa Trần Thị

Thà như chớ lấy họ Trần
Thì đâu chịu cảnh nhớ gần thương xa
Thà như em nói yêu ta
Thì đâu đến nỗi phong ba kiếp này.

Gịot Lệ

Nhớ người giọt lệ chẳng còn
Nỗi đau tan ngấm trong lòng từ xưa
Trăng sao thắp ngọn nến thừa
Cùng trông để ngỡ ta vừa mất nhau.

Gọi Người

Đêm thu trăn trở gọi người
Khói bay tưởng cụm mây trời phiêu diêu
Lập lòe đốm lửa đăm chiêu
Trăng pha màu lạnh cô liêu thổi vào.

Ngắm Sông

Hai hàng cây đứng hai bờ
Một người đếm lá dật dờ trên sông
Bao nhiêu lá. Bấy nhiêu lòng
Nước trôi vô định. Có không đường về?

NGUYỄN SĨ LONG

Freitag, 28. Juli 2017

BUỔI CHIỀU

 
Dốc chiều loang màu bạc
Ngọn thông buồn lung lay
Mùa xuân thường đi lạc
Én chưa qua nơi này.

Nắng chiều xòe nắm tay
Đè thung lũng xuống sâu
Đèn nhà ai vừa cháy
Hoàng hôn lướt trên cầu.

Gió chiều tìm chỗ trú
Sao hôm giờ mới mọc
Mặt trời vừa đi ngủ
Đôi môi lạnh như ngọc.

Đường chiều phơi chiếc lá
Hạt bụi nằm quay lưng
Hòa nhịp đập của đá
Nghe tiếng khóc quê nhà.

Mây chiều vẽ chân dung
Có lời thơ đề tựa
Giữa hai màu lạnh nóng
Chen nghĩa tình năm xưa.

Sương chiều xóa dấu chân
Trăng soi hồn viễn xứ
Cuối ngày còn lận đận
Nước dâng niềm ưu tư!

NGUYỄN SĨ LONG